0240.73088281
Logo

Vai trò của Liên hợp quốc trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế

Trong số các tổ chức quốc tế tiêu biểu hiện nay không thể không kể đến Liên hợp quốc. Từ khi thành lập, Liên hợp quốc đã có rất nhiều những đóng góp, vai trò to lớn trong nhiều lĩnh vực quan trọng của đời sống quốc tế, đặc biệt là trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế. Vậy cụ thể Liên hợp quốc có vai trò như thế nào trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế?

I. Khái quát chung về tranh chấp quốc tế và tổ chức Liên hợp quốc
1. Khái quát chung về tranh chấp quốc tế.

Căn cứ vào thực tiễn quốc tế, có thể hiểu một cách chung nhất, tranh chấp quốc tế là hoàn cảnh thực tế mà trong đó, các chủ thể tham gia có những quan điểm trái ngược hoặc mâu thuẫn và có những yêu cầu hay đòi hỏi cụ thể trái ngược nhau.[1] Tranh chấp quốc tế có các đặc điểm cơ bản sau: Một là chủ thể của tranh chấp là chủ thể của luật quốc tế; Hai là về tính chất, tranh chấp quốc tế thể hiện sự khác biệt quan điểm giữa các bên, từ đó giữa các bên có những yêu sách cụ thể, mâu thuẫn trái ngược nhau; Ba là tranh chấp quốc tế sử dụng các biện pháp hòa bình để giải quyết; Bốn là luật áp dụng để giải quyết tranh chấp là các nguyên tắc và pháp luật quốc tế, trong một số trường hợp có thể áp dụng luật quốc gia.
2. Khái quát chung về tổ chức Liên hợp quốc.
Liên hợp quốc thành lập ngày 24/10/1945, trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc. Đến nay, Liên hợp quốc đã có 193 thành viên. Liên hợp quốc theo đuổi mục đích trở thành trung tâm phối hợp mọi hành động của các dân tộc nhằm đạt được những mục đích như duy trì hòa bình và an ninh quốc tế; phát triển những quan hệ hữu nghị giữa các nước trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng, dân tộc tự quyết, thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế như kinh tế, văn hóa, xã hội, nhân đạo...[2]
II. Vai trò của Liên hợp quốc trong giải quyết tranh chấp quốc tế.
1. Liên hợp quốc đã thúc đẩy và tham gia xây dựng khuôn khổ pháp lý về giải quyết tranh chấp quốc tế.
Trong khuôn khổ của Liên hợp quốc, rất nhiều các điều ước quốc tế và các văn bản pháp lý khác được thông qua, trở thành cơ sở pháp lý quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế.
Một trong các văn bản pháp lý phải kể đến trước hết chính là Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945. Tại Điều 1 Hiến chương đã nêu rõ một trong những mục đích của Liên hợp quốc chính là "điều chỉnh hoặc giải quyết các vụ tranh chấp hoặc những tình thế có tính chất quốc tế...". Để tạo cơ sở pháp lý cho các chủ thể có liên quan trong việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp, Hiến chương Liên hợp quốc đã liệt kê rất nhiều những biện pháp hòa bình như đàm phán, trung gian, hòa giải, điều tra, trọng tài, tòa án hoặc các biện pháp hòa bình khác do các bên lựa chọn. Đồng thời, Hiến chương cũng quy định rõ vai trò, chức năng cụ thể của mỗi cơ quan Liên hợp quốc trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế, giúp các cơ quan phối hợp một cách nhịp nhàng, chặt chẽ.
Trong khuôn khổ của Liên hợp quốc, Công ước về Luật biển năm 1982 (UNCLOS) có hiệu lực và đã dành ra một vị trí rất quan trọng quy định các vấn đề về giải quyết tranh chấp (27/320 Điều). Lần đầu tiên cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc thông qua hòa giải và cơ chế trọng tài bắt buộc đã được áp dụng trên thực tế.[3] Khi có tranh chấp xảy ra liên quan đến giải thích hay áp dụng Công ước, các bên tranh chấp cần tiến hành trao đổi quan điểm về cách giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hay bằng các phương pháp hòa bình khác.[4] Ngoài ra, nhiều công ước quốc tế ra đời trong khuôn khổ của Liên hợp quốc cũng quy định các biện pháp giải quyết tranh chấp mà các thành viên có thể sử dụng khi có tranh chấp nảy sinh trong quá trình giải thích hoặc thực hiện công ước đó như Công ước viên năm 1969 về Luật điều ước quốc tế, tạo cơ sở để các quốc gia lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp.
Trong giải quyết các tranh chấp về vũ trụ quốc tế, Liên hợp quốc cũng đã thông qua các văn bản pháp lý đề cập đến cơ chế giải quyết tranh chấp ở các mức độ khác nhau như Hiệp ước về các quy tắc điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong việc nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ năm 1967, Hiệp định điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trên Mặt trăng và các thiên thể khác năm 1979…[5]
2. Liên hợp quốc đã xây dựng các thiết chế nhằm giải quyết tranh chấp quốc tế.
Một trong các thiết chế có thể nói là quan trọng nhất trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế do Liên hợp quốc xây dựng chính là Tòa án Công lý quốc tế (ICJ). Thẩm quyền của Tòa án Công lý quốc tế được xác lập theo ba phương thức: chấp nhận thẩm quyền theo từng vụ việc, xác lập thẩm quyền trong nội dung các điều ước quốc tế và tuyên bố đơn phương chấp nhận thẩm quyền.[6] Ngoài vai trò giải quyết tranh chấp quốc tế, hoạt động thực tiễn của Tòa còn để thực thi một chức năng quan trọng khác là đưa ra các kết luận tư vấn được xác định theo Điều 96 Hiến chương Liên hợp quốc. Vai trò này nhằm đáp ứng yêu cầu của các cơ quan chính của Liên hợp quốc và các tổ chức chuyên môn được Đại hội đồng cho phép. Bên cạnh các thẩm quyền chính nêu trên, Tòa còn có các thẩm quyền phụ như chỉ định các chánh án của Tòa trọng tài, Ủy ban trọng tài hoặc hòa giải và các ủy viên khi cần theo yêu cầu của các quốc gia. Trong giai đoạn hiện nay, Tòa án Công lý quốc tế vẫn đang hoạt động rất tích cực. Từ năm 2000 đến năm 2019, ICJ đã đưa ra 60 phán quyết đối với các vụ tranh chấp. Năm 2012, Tuyên bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã công nhận những đóng góp tích cực của Tòa án Công lý quốc tế trong việc xét xử các tranh chấp giữa các quốc gia và giá trị phán quyết của ICJ đối với thúc đẩy sự phát triển của pháp luật quốc tế.[7]
Một thiết chế khác không kém phần quan trọng chính là Tòa án Quốc tế về Luật biển (ITLOS). ITLOS có hai thẩm quyền chính: thẩm quyền đối với tất cả các yêu cầu được đưa ra về việc giải thích, áp dụng UNCLOS và thẩm quyền đưa ra ý kiến tư vấn đối với các câu hỏi pháp lý.[8] Tính đến thời điểm hiện tại, 28 vụ tranh chấp được giải quyết gồm 07 trường hợp áp dụng biện pháp tạm thời và 12 vụ liên quan đến hoạt động phóng thích tàu cá và thủy thủ.[9]
Ngoài ra, Liên hợp quốc cũng đã xây dựng các thiết chế trọng tài quốc tế như Trọng tài quốc tế về Luật biển (Phụ lục VII Công ước Luật biển năm 1982), Tòa Trọng tài đặc biệt (phụ lục VIII Công ước Luật biển năm 1982),...
3. Mỗi cơ quan của Liên hợp quốc có vai trò riêng trong giải quyết tranh chấp quốc tế.
Theo quy định tại Hiến chương Liên hợp quốc, các cơ quan chính, ở các mức độ khác nhau, đều có thể tham gia quá trình giải quyết tranh chấp quốc tế. Trong đó, vai trò chính thuộc về Hội đồng bảo an và Tòa án Công lý quốc tế.
Hội đồng bảo an là cơ quan có trách nhiệm chính trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế cũng như có chức năng rộng lớn nhất trong giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế. Nói chung, thẩm quyền của Hội đồng bảo an được xác định đối với các loại hình tranh chấp quốc tế mà khả năng kéo dài có thể đe dọa hoặc đe dọa hòa bình, an ninh quốc tế. Trên cơ sở của chương VI Hiến chương, Hội đồng bảo an có toàn quyền thực hiện chức năng giải quyết tranh chấp thông qua các biện pháp trung gian (Điều 36), hòa giải (Điều 37), ủy ban điều tra (Điều 34), ủy ban hòa giải (Điều 38).[10]
Bên cạnh đó, các cơ quan chính khác như Đại hội đồng cũng có thể thực hiện các chức năng hòa giải nếu tranh chấp không được chuyển giao cho Hội đồng bảo an xem xét và giải quyết.[11] Các kết luận, khuyến nghị của Đại hội đồng chủ yếu mang tính tham khảo, không có tính bắt buộc chung đối với các bên tranh chấp, trừ khi Đại hội đồng ra Nghị quyết về việc giải quyết tranh chấp đó.[12]
Trong quá trình giải quyết tranh chấp, Tổng thư ký có quyền thông báo cho Hội đồng bảo an các vấn đề bất kỳ mà theo nhận định của Tổng thư ký có thể đe dọa việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế; có thể đưa vấn đề tranh chấp ra trước Hội đồng bảo an xem xét mặc dù Tổng thư ký không có tiếng nói quyết định. Tổng thư ký cũng có thể theo yêu cầu của Đại hội đồng và Hội đồng bảo an đóng vai trò trung gian, hòa giải. Vai trò quan trọng của Tổng thư ký đã được thể hiện rõ trong tiến trình giải quyết cuộc khủng hoảng ở vùng Caribe hoặc trong việc ký thỏa ước quốc tế về điều chỉnh tình hình chính trị xung quanh vấn đề Apgannixtan...
Tòa án Công lý quốc tế - cơ quan tư pháp chính của Liên hợp quốc, hoạt động theo Quy chế của Tòa án Công lý quốc tế, cũng thể hiện vai trò quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế như đã phân tích trong nội dung về xây dựng các thiết chế giải quyết tranh chấp của Liên hợp quốc.
Có thể thấy, Liên hợp quốc ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp quốc. Liên hợp quốc không chỉ xây dựng khuôn khổ pháp lý mà còn xây dựng các thiết chế cho việc giải quyết tranh chấp. Mong rằng trong tương lai, Liên hợp quốc sẽ ngày càng có nhiều đóng góp to lớn cho việc giải quyết tranh chấp quốc tế, góp phần thực hiện mục tiêu "duy trì hòa bình và an ninh quốc tế".
Nguyễn Thị Lan Hương - Công ty Luật TNHH H&M
[1] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Công pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2020, tr. 394.
[2] Theo Điều 1 Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945.
[3] Nguyễn Hồng Thao, Công ước của Liên hợp quốc về luật biển UNCLOS và 25 năm thực thi Công ước tại Việt Nam. Nguồn: http://www.nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-vietnam/7387-cong-uoc-lien-hop-quoc-ve-luat-bien-va-25-nam-thuc-thi-cong-uoc-tai-viet-nam
[4] Điều 279 Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982.
[5] Đồng Thị Kim Thoa, Cơ chế giải quyết tranh chấp trong Luật vũ trụ quốc tế, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 2011, số 5, tr. 56.
[6] Nguyễn Hồng Thao, Tòa án Công lý quốc tế, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 31, 53, 54.
[7] Trần Trung Thông, Thực tiễn giải quyết tranh chấp của Tòa án Công lý quốc tế - Một số đề xuất cho Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội, 2019, tr. 6.
[8] Ngô Hải Hoàn, Các cơ quan tài phán quốc tế và thẩm quyền giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông, Tạp chí Nghề luật, 2019, số 6, tr. 86.
[9] Nguyễn Lê Quân, Thực tiễn giải quyết tại Tòa án Luật Biển quốc tế - Một số đề xuất cho Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội, 2019, tr. 25.
[10] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Công pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2020, tr. 406.
[11] Điều 11, Điều 12, Điều 14 và Điều 35 Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945.
[12] Trường Đại học Luật Hà Nội, Một số cơ chế giải quyết tranh chấp trong Luật quốc tế, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Hà Nội, 2001, tr. 18.

Các tin khác