0240.73088281
Logo

Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015 về lỗi trong trái quyền ngoài thỏa thuận và hướng hoàn thiện

1. Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015 về lỗi trong trái quyền ngoài thoả thuận

Mặc dù BLDS năm 2015 đã có những quy định cơ bản về lỗi trong trái quyền ngoài thoả thuận, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những bất cập, hạn chế nhất định trong quá trình áp dụng pháp luật trên thực tiễn có thể kể đến như sau:

Thứ nhất, pháp luật hiện nay chưa có quy định về việc lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là gì. Như đã phân tích, đến nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh việc định nghĩa về lỗi trong trách nhiệm dân sự nói chung và trong trách nhiệm dân sự ngoài thoả thuận nói riêng. Việc BLDS năm 2015 không đưa ra một quy định cụ thể định nghĩa về lỗi mà chỉ nêu lỗi cố ý và lỗi vô ý là gì đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, nhiều trường hợp gây khó khăn trong việc xác định trên thực tế. Chẳng hạn như khi áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, do còn nhiều cách hiểu khác nhau về lỗi nên xảy ra nhiều sai sót trong việc đánh giá lỗi, dẫn đến đánh giá sai bản chất của thiệt hại và xác định sai trách nhiệm bồi thường (giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra với trách nhiệm bồi thường thiệt hại liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ).[1] Bên cạnh đó, việc chưa quy định khái niệm lỗi cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến còn tồn tại quan điểm trái ngược nhau khi xác định lỗi có phải căn cứ bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại hay không. Bởi mặc dù khoản 1 Điều 584 BLDS năm 2015 đã bỏ nội dung: "Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý…" nhưng vẫn chưa có hướng dẫn nêu rõ những điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là gì, mà thực chất mới chỉ mô tả chung về hành vi, thiệt hại và trách nhiệm bồi thường.

Thứ hai, việc xác định mức độ lỗi của các chủ thể trên thực tế chưa có sự thống nhất.

Hiện nay, BLDS năm 2015 không có quy định cụ thể làm căn cứ để xác định tỷ lệ mức độ lỗi của các bên. Do đó, trên thực tế, việc xác định mức độ lỗi của các chủ thể thường dựa vào ý chí chủ quan của Hội đồng xét xử dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất, chưa đảm bảo được sự công bằng cho các đương sự.

Dẫn chứng cho thực tiễn nêu trên, có thể kể đến việc xác định mức độ lỗi giữa các chủ thể trong tranh chấp tại Bản án dân sự phúc thẩm số 43/2021/DS-PT ngày 23 tháng 11 năm 2021 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi về “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khoẻ, tài sản bị xâm phạm”.[2] Theo nội dung vụ án, ngày 22/7/2018, do có mâu thuẫn từ trước nên bà T và bà N , chị T1 xảy ra ra xô xát, giằng co dẫn đến cả bà T và bà N đều bị thiệt hại về sức khoẻ. Cụ thể, bà T là người đã có hành vi gây thương tích về sức khoẻ cho bà N trước và sau đó bà N, chị T1 cũng có những hành vi gây thương tích trở lại cho bà T. Theo kết quả giám định thương tích thì bà T có thiệt hại về sức khoẻ lớn hơn bà N và chị T1. Trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Toà án cấp sơ thẩm, Hội đồng xét xử nhận định cả ba người là bà T, bà N và chị T1 đều có lỗi, từ đó xác định mức độ lỗi của bà T là 30% và bà N, chị T1 là 70% làm căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tương ứng với mỗi đương sự. Tuy nhiên, tại Toà án cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử lại cho rằng việc Toà án cấp sơ thẩm xác định mức độ lỗi như trên là chưa đánh giá đúng với tính chất, mức độ hành vi hành thiệt hại của các bên bởi hành vi gây thương tích của bà T nghiêm trọng, nguy hiểm hơn hành vi của bà N, chị T1. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã xác định lại mức độ lỗi của bà T và bà N, chị T1 lần lượt là 40% và 60%.

Như vậy, trong cùng một vụ việc, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm đã có những quan điểm khác nhau trong việc xác định mức độ lỗi của các đương sự. Nếu Toà án cấp sơ thẩm xác định mức độ lỗi dựa vào mức độ thiệt hại của mỗi bên, thì Toà án cấp phúc thẩm lại xác định mức độ lỗi dựa vào tính chất, mức độ hành vi gây thiệt hại. Qua đó phản ánh trên thực tiễn, việc xác định mức độ lỗi của các bên chủ thể làm căn cứ xác định trách nhiệm dân sự ngoài thoả thuận là chưa có sự thống nhất.

Thứ ba, chưa xác định đầy đủ lỗi của các chủ thể phải chịu trách nhiệm trách nhiệm dân sự ngoài thoả thuận.

 Việc xác định chủ thể phải chịu trách nhiệm dân sự ngoài thoả thuận có ý nghĩa quan trọng bởi xác định sai hoặc không chính xác, đầy đủ chủ thể phải chịu trách nhiệm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác. Tuy nhiên trên thực tiễn, còn tồn tại nhiều vụ việc mà Toà án xác định chưa đầy đủ lỗi của các chủ thể phải chịu trách nhiệm dân sự ngoài thoả thuận.

Dẫn chứng cho thực tiễn nêu trên có thể kể đến việc xác định chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại tại Bản án số 111/2020/DS-PT ngày 13/8/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại về tài sản do xây dựng nhà liền kề”.[3] Theo nội dung vụ việc, nguyên đơn là bà H đã khởi kiện đề nghị Toà án cấp sơ thẩm yêu cầu bà C phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho mình do bà C đã xây dựng nhà liền kề làm hư hỏng nhà của bà H. Do xác định trong trường hợp này lỗi hoàn toàn thuộc về bà C nên Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, buộc bà C phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bà H. Tuy nhiên, sau khi xem xét và đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án một cách đầy đủ, Toà án cấp phúc thẩm đã xác định bà H cũng có một phần lỗi đối với thiệt hại xảy ra. Cụ thể, Hội đồng xét xử nhận định: “Đối với phần lỗi của chị H, khi xảy ra sự cố lún nền, xé tường, nghiêng nhà thì chị H phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền dừng thi công công trình liền kề để khắc phục nhà cho chị xong rồi nhà liền kề mới tiếp tục được thi công nhưng chị H không yêu cầu mà còn thoả thuận với bà C xây nhà xong mới sửa chữa nhà cho chị… Do đó, chị H cũng có một phần lỗi trong vụ việc này, nên xác định lỗi của chị H là 30%, lỗi của bà C là 70% là có căn cứ, đúng pháp luật”.

Như vậy, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã đánh giá nguyên nhân dẫn đến thiệt hại chưa đầy đủ, từ đó xác định thiếu chủ thể có lỗi phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

2. Một số phương hướng hoàn thiện quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015 về lỗi trong trái quyền ngoài thoả thuận

Thứ nhất, bổ sung quy định cụ thể lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là gì. Mặc dù không phải là điều kiện bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong mọi trường hợp nhưng lỗi vẫn có vai trò, ý nghĩa quan trọng đối với các vấn đề liên quan đến bồi thường thiệt hại. Đối với ngành Tòa án khi giải quyết những tranh chấp liên quan đến trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, cần thiết phải hiểu rõ cơ sở lý luận về lỗi để áp dụng chuẩn xác các quy phạm pháp luật về trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, qua đó đưa ra những nhận định và quyết định chuẩn xác, đúng pháp luật.[4] Do đó, việc có một quy định cụ thể về lỗi là gì sẽ tránh tình trạng có nhiều cách hiểu khác nhau dễ dẫn đến việc không thống nhất trong quan điểm giải quyết các tranh chấp phát sinh liên quan đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Thứ hai, cần bổ sung quy định pháp luật hoặc có hướng dẫn về tiêu chí, căn cứ để xác định mức độ lỗi trong trái quyền ngoài thoả thuận. Như đã phân tích, mức độ lỗi có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm dân sự của các chủ thể nhưng việc xác định mức độ lỗi hiện nay chủ yếu dựa vào ý chỉ chủ quan của Hội đồng xét xử mà chưa có những tiêu chí, căn cứ cụ thể theo quy định pháp luật. Điều này dẫn tới thực tiễn cùng một vụ việc nhưng ở những Toà án khác nhau lại có cách xác định mức độ lỗi khác nhau, ảnh hưởng đến tính khách quan của bản án cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Do đó, tác giả đồng ý với quan điểm của tác giả Đỗ Đức Thiện, theo đó, kiến nghị bổ sung quy định về các tiêu chí xác định mức độ lỗi như: “căn cứ phần thiệt hại tương ứng với lỗi gây ra; tính chất, mức độ của hành vi gây thiệt hại…”.[5]

Thứ ba, cần nâng cao nhận thức, chuyên môn nghiệp vụ của các Thẩm phán trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến trách nhiệm dân sự ngoài thoả thuận. Thực tiễn cho thấy, do nhận thức, trình độ chuyên môn của Thẩm phán về trách nhiệm dân sự ngoài thoả thuận nói chung và về yếu tố lỗi nói riêng còn hạn chế, nên từ đó mới dẫn đến những trường hợp như xác định sai hoặc xác định thiếu chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Cần phải thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn, trao đổi chuyên môn, nhìn nhận những hạn chế còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng pháp luật để từ đó thảo luận, thống nhất đưa ra giải pháp chung. Ngoài ra, Ngành Toà án có thể tổ chức các buổi hội thảo, toạ đàm có sự tham gia của các chuyên gia trong lĩnh vực dân sự nói chung và trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng để có góc nhìn toàn diện hơn cả về lý luận và thực tiễn.[6]

Nguyễn Thị Lan Hương - Công ty Luật TNHH H&M


[1] Vi Ngọc Diệp (2018), Yếu tố lỗi của các vụ tranh chấp trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội, tr. 55.

[2] Xem toàn bộ nội dung bản án tại: https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta836016t1cvn/chi-tiet-ban-an

[3] Xem toàn bộ nội dung bản án tại: https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta559728t1cvn/chi-tiet-ban-an

[4] Phùng Trung Tập (2004), "Lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng", Tòa án nhân dân, (10), tr. 5.

[5] Đỗ Đức Thiện (2022), tlđd, tr. 72.

[6] Nguyễn Danh Kiên (2022), tlđd, tr. 70.

Các tin khác