Có nhiều quan điểm khác nhau trong nhận thức về yếu tố lỗi nhưng nhìn chung các học giả đều thừa nhận lỗi được biểu hiện dưới hai hình thức cố ý và vô ý.[1] Hiện nay, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng không có một quy định riêng về hình thức lỗi trong trái quyền ngoài thoả thuận mà quy định chung về các hình thức lỗi trong trách nhiệm dân sự tại Điều 364, bao gồm lỗi cố ý và lỗi vô ý.
Đối với lỗi cố ý, BLDS năm 2015 quy định: "lỗi cố ý là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra". Như vậy, trường hợp thứ nhất là chủ thể có hành vi vi phạm nghĩa vụ hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho chủ thể nhưng vẫn lựa chọn xử sự tiếp tục thực hiện. Trường hợp thứ hai là chủ thể có hành vi vi phạm nghĩa vụ hoàn toàn nhận thức rõ hậu quả gây thiệt hại do hành vi của mình sẽ xảy ra nhưng để mặc cho hậu quả đó xảy ra mà không có những biện pháp ngăn chặn.
Đối với lỗi vô ý, BLDS năm 2015 quy định: "lỗi vô ý là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được". Theo đó, trường hợp thứ nhất là chủ thể có hành vi vi phạm nghĩa vụ nhận thức được thiệt hại có thể xảy ra nhưng do quá tin tưởng vào những yếu tố chủ quan của bản thân mà cho rằng thiệt hại có thể ngăn chặn được. Còn trường hợp thứ hai là chủ thể có hành vi vi phạm nghĩa vụ không nhận thức được hành vi của mình có thể gây thiệt hại mặc dù đáng lẽ chủ thể này phải biết hoặc thấy trước.
BLDS năm 2015 quy định về các hình thức lỗi như trên là hoàn toàn phù hợp với lý luận về lỗi cũng như miêu tả được cả hai yếu tố là lý trí và ý chí của lỗi.
Trước hết, về nguyên tắc, một người bị áp dụng một chế tài pháp lí (cưỡng chế của Nhà nước) thì họ phải có hành vi vi phạm pháp luật do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý. Điều này đã được thể hiện một cách rõ ràng trong các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trước đây của Việt Nam. Theo đó, trước khi có BLDS năm 2015, lỗi được xem là một trong những điều kiện bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Cụ thể, tại tiểu mục 4 Mục A Phần II Thông tư số 173/TANDTC quy định: "Nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh khi có đầy đủ bốn điều kiện, trong đó qua thực tiễn, cần chú ý một số điểm chủ yếu sau đây… 4. Phải có lỗi của người gây thiệt hại. Người gây thiệt hại phải nhận thức hoặc có thể nhận thức được rằng hành vi của mình là trái pháp luật và có thể gây ra thiệt hại cho người khác: cố ý hay vô ý đều là có lỗi". Trên tinh thần đó, BLDS năm 1995 ra đời cũng quy định tại Điều 609: "Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý… thì phải bồi thường" và được hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP ngày 28 tháng 4 năm 2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Nội dung này tiếp tục được giữ nguyên tại khoản 1 Điều 604 BLDS năm 2005 và được hướng dẫn cụ thể tại tiểu mục 1.4 Mục 1 Phần I Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP: "Theo quy định tại Điều 604 BLDS năm 2005 (sau đây gọi tắt là BLDS), về nguyên tắc chung thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau đây… 1.4. Phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại…".
Tuy nhiên, BLDS năm 2015 hiện nay đã có sự thay đổi khi không nhắc đến yếu tố lỗi trong quy định tại khoản 1 Điều 584: "Người nào có hành vi xâm phạm… thì phải bồi thường". Đồng thời, Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng đã quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 584 BLDS phát sinh mà không bao gồm yếu tố lỗi. Như vậy, nếu các quy định trước đây rất nhấn mạnh tới yếu tố lỗi của chủ thể có hành vi gây thiệt hại và lỗi được coi là một căn cứ làm phát sinh trách nhiệm thì nay BLDS năm 2015 quy định theo hướng không dựa trên yếu tố lỗi.[2] Hay nói cách khác, theo quy định của pháp luật hiện nay, lỗi không phải là một trong những điều kiện bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trừ một số trường hợp pháp luật quy định phải có lỗi mới phải bồi thường.
Cụ thể, người gây thiệt hại sẽ luôn phải bồi thường thiệt hại dù có lỗi hay không có lỗi, trừ khi họ gây thiệt hại trong trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc chứng minh được thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại.[3] Cần phải nhấn mạnh rằng, nếu người gây thiệt hại không có lỗi nhưng đồng thời người bị thiệt hại cũng không có lỗi thì trách nhiệm bồi thường vẫn sẽ phát sinh đối với người gây thiệt hại. Dẫn chứng cho việc yếu tố lỗi hiện nay không phải là căn cứ bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thể kể đến như trường hợp bồi thường thiệt hại liên quan đến phòng vệ chính đáng, chỉ cần hành vi gây thiệt hại vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng là phải bồi thường, mà không cần xem xét hành vi đó có lỗi hay không. Hay như trường hợp bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình khác gây ra quy định tại Điều 605 BLDS năm 2015, chỉ cần nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ phát sinh, bất kể chủ sở hữu, người được giao chiếm hữu, sử dụng có "biết hay không biết", có "để hay không để" cho nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại.[4] Đối với bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra hay do làm ô nhiễm môi trường thì Điều 601 và Điều 602 BLDS đã quy định rất rõ dù không có lỗi vẫn phải bồi thường. Ngoài ra, liên quan đến trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự, nếu Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 quy định có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại (ví dụ như không ra quyết định thi hành án) chưa đủ mà còn phải chứng minh thêm yếu tố lỗi của người thi hành công vụ là "cố ý" không ra quyết định, thì yếu tố lỗi này đã không còn được giữ lại trong quy định tại Điều 21 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017. Thậm chí, trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, mặc dù Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 ra đời trong thời gian BLDS năm 2005 vẫn có hiệu lực, nhưng tại khoản 1 Điều 23 của văn bản đã quy định: "Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp hàng hóa có khuyết tật do mình cung cấp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể cả khi tổ chức, cá nhân đó không biết hoặc không có lỗi trong việc phát sinh khuyết tật…". Quy định này cho thấy căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp hàng hóa có khuyết tật không cần yếu tố lỗi và hoàn toàn phù hợp với Điều 608 BLDS năm 2015 về bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng. Đây được xem là một quy định tiến bộ vì đã ghi nhận nguyên tắc trách nhiệm nghiêm ngặt – trách nhiệm bồi thường không dựa trên yếu tố lỗi.[5]
Tuy BLDS năm 2015 không đề cập đến yếu tố lỗi khi xác định những điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như đã phân tích, nhưng trong một số trường hợp do pháp luật quy định, người gây thiệt hại phải có lỗi mới phải bồi thường. Có thể kể đến như trường hợp bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra, người thi công sẽ chỉ phải liên đới bồi thường thiệt hại nếu họ có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại.[6] Hay như trường hợp người thứ ba làm cho súc vật gây thiệt hại cho người thì họ sẽ chỉ phải bồi thường thiệt hại nếu hoàn toàn có lỗi hoặc liên đới bồi thường thiệt hại nếu họ và chủ sở hữu cùng có lỗi.[7] Có thể thấy, nếu chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác ngay cả khi không có lỗi thì người thứ ba làm cho súc vật gây thiệt hại sẽ chỉ phải bồi thường thiệt hại nếu họ có lỗi. Như vậy, trong những trường hợp trên, lỗi là điều kiện bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người thi công hoặc người thứ ba.
Việc BLDS năm 2015 bỏ nội dung "có lỗi cố ý hoặc vô ý" khi quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thể được xem là nhằm hướng tới sự nghiêm ngặt của trách nhiệm bồi thường và phần lớn các quan điểm đều đồng ý với việc không coi lỗi là một trong những điều kiện bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại quan điểm khác đó là vẫn coi lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng vì những người theo quan điểm này cho rằng về nguyên tắc chung thì mọi trách nhiệm dân sự đều phải có yếu tố lỗi. Việc BLDS quy định một số trường hợp bồi thường thiệt hại cụ thể không cần xác định yếu tố lỗi xuất phát từ các ý nghĩa, nguyên nhân đặc thù tùy theo từng trường hợp đó, vì thế không thể coi đây là cơ sở xóa bỏ yếu tố lỗi khi xem xét các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.[8] Quan điểm này cũng cho rằng "hành vi xâm phạm" được sử dụng trong BLDS năm 2015 là hành vi bao hàm yếu tố lỗi.[9] Bởi về mặt lý luận, yếu tố lỗi không thể tồn tại độc lập và tách biệt với hành vi trái pháp luật của chủ thể[10] và để xác định có lỗi hay không có lỗi, trước hết cần căn cứ vào tính trái pháp luật của hành vi[11] nên thay vì loại bỏ yếu tố lỗi ra khỏi các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thì nên ghi nhận lỗi theo hướng suy đoán.
Về phần mình, tác giả đồng ý với quan điểm không coi lỗi là một trong bốn điều kiện bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trừ một số trường hợp pháp luật quy định phải có lỗi mới phải bồi thường. Bởi để xác định có hay không có yếu tố lỗi của chủ thể gây thiệt hại là một việc không đơn giản, mất nhiều thời gian[12] và nếu buộc người bị thiệt hại phải chứng minh lỗi tức là gián tiếp bác bỏ quyền đòi bồi thường của họ. Trong khi đó, mục đích chính của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quan điểm pháp lý của Việt Nam chủ yếu là nhằm khắc phục hậu quả thực tế, mà không phải là biện pháp trừng phạt nên cần thiết phải đặt lợi ích của người bị thiệt hại lên hàng đầu, giảm bớt gánh nặng chứng minh cũng như tạo điều kiện thuận lợi để họ được bồi thường thiệt hại. Do đó, việc BLDS năm 2015 thay đổi theo hướng chỉ cần ba điều kiện gồm có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra, mà không cần phải chứng minh lỗi của bên gây thiệt hại để yêu cầu bồi thường được tác giả cho là hợp lý. Lúc này, nếu muốn được miễn trách nhiệm hoặc được giảm mức bồi thường thì việc chứng minh lỗi sẽ thuộc về bên gây thiệt hại. Ngoài ra, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không chỉ phát sinh do hành vi vi phạm của con người mà còn có thể do tài sản gây ra, việc đặt ra vấn đề lỗi là không phù hợp đối với nguyên nhân gây ra thiệt hại là tài sản – một vật vô tri, vô giác.[13] Do đó, trong trường hợp này, dù không có lỗi, chủ sở hữu, người quản lý tài sản cũng vẫn phải bồi thường vì họ là những người được hưởng lợi trực tiếp từ tài sản mang lại.
Theo khoản 2 Điều 584 BLDS năm 2015, người gây thiệt hại sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong trường hợp thiệt hại phát sinh hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại. Đây là chính quy định pháp luật về căn cứ loại trừ trách nhiệm dân sự ngoài thỏa thuận dựa trên yếu tố lỗi. Theo đó, trong cả hai trường hợp thiệt hại do hành vi của con người hay do tài sản gây ra, lỗi của bên bị thiệt hại chính là căn cứ để loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Hay nói cách khác, nếu chủ thể gây thiệt hại mặc dù đã có hành vi gây thiệt hại nhưng hành vi này không phải là hành vi vi phạm nghĩa vụ ngoài thoả thuận mà pháp luật quy định và chủ thể bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi trong việc thiệt hại xảy ra, thì chủ thể gây thiệt hại sẽ không phải chịu trách nhiệm dân sự ngoài thoả thuận.
Bên cạnh đó, BLDS năm 2015 còn quy định cụ thể về loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng dựa trên yếu tố lỗi trong trường hợp bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Cụ thể, chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại. Quy định này cho thấy chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải chịu trách nhiệm quản lý ở mức độ cao hơn chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng các loại tài sản khác. Chỉ khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ chứng minh được mình đã quản lý tốt nguồn nguy hiểm cao độ, đồng thời đã ngăn cản người bị hại tiếp xúc nhưng họ vẫn cố tình tiếp cận thì khi đó trách nhiệm bồi thường thiệt hại mới được loại trừ.[14]
Tại khoản 2 Điều 585 BLDS năm 2015 quy định: “Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình”. Từ quy định trên có thể hiểu, nếu người gây ra thiệt hại có lỗi cố ý hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại xảy ra không quá lớn so với hoàn cảnh kinh tế của họ thì sẽ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do mình gây ra. Còn nếu người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế của họ thì có thể được giảm mức bồi thường. Như vậy, lỗi chính là yếu tố để xem xét mức chịu trách nhiệm dân sự ngoài thoả thuận và việc quy định như trên có ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong việc đảm bảo các bản án của toà án có khả năng thực hiện trên thực tế, cũng như đảm bảo cho người bị thiệt hại nhận được khoản bồi thường thực sự mà không phải chỉ là khoản bồi thường “trên giấy tờ” được tuyên trong bản án của Toà án.
Thứ nhất, lỗi là căn cứ để xác định chủ thể chịu trách nhiệm dân ngoài thoả thuận trong trường hợp thiệt hại do hành vi của con người gây ra. Trong trường hợp này, theo nguyên tắc chung, chủ thể phải chịu trách nhiệm dân sự ngoài thoả thuận là chủ thể có hành vi vi phạm nghĩa vụ ngoài thoả thuận thuận dẫn đến thiệt hại và chủ thể này bị coi là có lỗi trong việc gây ra thiệt hại đó.
Tuy nhiên, một hành vi vi phạm nghĩa vụ ngoài thoả thuận chỉ bị coi là có lỗi nếu người thực hiện hành vi đó có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật. Do đó, nếu người gây ra thiệt hại lại là người có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi hay người hạn chế năng lực hành vi dân sự thì họ sẽ được xác định là không có lỗi đối với thiệt hại xảy ra và không phải chủ thể phải chịu trách nhiệm dân sự ngoài thoả thuận. Các chủ thể phải chịu trách nhiệm dân sự ngoài thoả thuận trong trường hợp này sẽ thuộc về những chủ thể như người cố ý dùng rượu hoặc chất kích thức khác làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi (khoản 2 Điều 596 BLDS năm 2015); trường học, bệnh viện, pháp nhân khác hoặc cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự (Điều 599 BLDS năm 2015)…
Thứ hai, lỗi là căn cứ để xác định chủ thể chịu trách nhiệm dân ngoài thoả thuận trong trường hợp thiệt hại do tài sản gây ra. Trong trường hợp này, theo nguyên tắc chung quy định tại khoản 3 Điều 584 BLDS năm 2015, chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm dân sự ngoài thoả thuận khi tài sản gây ra thiệt hại. Đồng thời, người đang trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự ngoài thoả thuận nếu thiệt hại do tài sản mình đang trực tiếp quản lý, sử dụng gây ra. Cơ sở để xác định trách nhiệm dân sự ngoài thoả thuận do tài sản gây ra của người đang trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản là dựa trên sự suy đoán lỗi của chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản hợp pháp, người trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản có lỗi trong việc quản lý, bảo quản tài sản.[15]
Ngoài ra, BLDS năm 2015 cũng đặt ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đối với bên thứ ba có lỗi khi để cho tài sản gây thiệt hại trong một số trường hợp nhất định. Chẳng hạn như trường hợp bên thứ ba hoàn toàn có lỗi trong việc để súc vật gây thiệt thì phải bồi thường thiệt hại hoặc liên đới bồi thường thiệt hại với chủ sở hữu nếu cả hai cùng có lỗi (Điều 603 BLDS năm 2015); trường hợp người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại thì họ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại (Điều 605 BLDS năm 2015).
2.5. Quy định về lỗi là cơ sở để xác định trách nhiệm hoàn trả theo Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015
Một số những trường hợp cụ thể về trách nhiệm hoàn trả theo quy định của BLDS năm 2015 cụ thể như sau:
Thứ nhất, trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra. Theo quy định tại Điều 597 BLDS năm 2015, pháp nhân có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao dù người đó có lỗi hay không có lỗi đối với thiệt hại xảy ra. Tuy nhiên, trách nhiệm hoàn trả đối với người của pháp nhân sẽ chỉ phát sinh nếu người đó có lỗi, hay nói cách khác, lỗi của người của pháp nhân trong trường hợp này là cơ sở để xác định trách nhiệm hoàn trả của họ đối với pháp nhân.
Thứ hai, trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp bồi thường thiệt hại do người làm công, học nghề gây ra. Theo quy định tại Điều 600 BLDS năm 2015, “cá nhân, pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật”. Như vậy, lỗi của người làm công, người học nghề cũng là cơ sở để xác định trách nhiệm hoàn trả của họ đối với thiệt hại xảy ra.
Thứ ba, trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra. Theo quy định tại khoản 1 Điều 64 Luật Trách nhiệm bồi thường Nhà nước năm 2017: “Người thi hành công vụ có lỗi gây thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân sách nhà nước một phần hoặc toàn bộ số tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại”. Như vậy, lỗi của người thi hành công vụ chính là cơ sở để xác định trách nhiệm hoàn trả của họ đối với Nhà nước.
Nguyễn Thị Lan Hương - Công ty Luật TNHH H&M
[1] Phùng Trung Tập (2017), Luật Dân sự Việt Nam (Bình giảng và áp dụng): Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 71.
[2] Đinh Trung Tụng (Chủ biên) (2016), Bối cảnh xây dựng và một số nội dung mới chủ yếu của BLDS năm 2015 (so sánh với BLDS năm 2005), NXB Tư pháp, Hà Nội, tr. 55.
[3] Khoản 2 Điều 584 BLDS năm 2015.
[4] Nguyễn Văn Hợi (2018), "Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra", Kiểm sát, (17), tr. 33.
[5] Lê Thị Hồng Vân (2020), "Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa không bảo đảm chất lượng gây ra cho người tiêu dùng", Khoa học pháp lý Việt Nam, (07), tr. 44.
[6] Điều 605 BLDS năm 2015.
[7] Điều 603 BLDS năm 2015.
[8] Nguyễn Tiến Hùng và Vũ Đức Hùng (2015), "Yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Dự thảo BLDS (sửa đổi) và một số kiến nghị", Dân chủ và pháp luật, (Số chuyên đề Sửa đổi, bổ sung BLDS), tr. 159.
[9] Phạm Văn Tuyết (Chủ biên) (2017), sđd, tr. 471.
[10] Nguyễn Văn Hợi (2021), "Căn cứ phát sinh và năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và Đức", Luật học, (9), tr. 43.
[11] Nguyễn Văn Cừ và Trần Thị Huệ (đồng chủ biên) (2017), sđd, tr. 872.
[12] Ngô Hoàng Oanh (Chủ biên) (2016), Bình luận khoa học BLDS năm 2015, NXB Lao động, Hà Nội, tr. 592.
[13] Vũ Thị Hồng Yến, "Bàn về trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tài sản gây ra thiệt hại", Dân chủ và Pháp luật, https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=14
[14] Nguyễn Văn Hợi (2017), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Hà Nội, tr. 58.
[15] Nguyễn Danh Kiên (2022), tlđd, tr. 44.