0240.73088281
Logo

Một số vấn đề lý luận về khởi kiện vụ án dân sự

1. Khái niệm khởi kiện vụ án dân sự

Trong khoa học pháp lý, khái niệm khởi kiện vụ án dân sự đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Theo ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt có giải thích “khởi” là “bắt đầu, mở đầu một việc gì[1], còn “kiện” là “việc yêu cầu toà án xét xử việc người khác đã làm thiệt hại đến mình[2]. Theo đó, khởi kiện về mặt ngữ nghĩa được hiểu là bắt đầu việc yêu cầu toà án xét xử việc người khác làm hại đến quyền lợi của mình.

Dưới góc độ là các quy định của pháp luật TTDS, khởi kiện vụ án dân sự chính là tập hợp các quy phạm pháp luật TTDS về khởi kiện vụ án dân sự như quy định về điều kiện khởi kiện, quy định về phạm vi khởi kiện, quy định về hình thức, nội dung của đơn khởi kiện…

Dưới góc độ là một hoạt động TTDS, khởi kiện vụ án dân sự đã được nhiều nhà khoa học pháp lý đưa ra các định nghĩa khác nhau. Có quan điểm cho rằng, “khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật TTDS nộp đơn yêu cầu Toà án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác”.[3] Có quan điểm khác cho rằng, “khởi kiện vụ án dân sự (hay kiện vụ án dân sự) là việc cá nhân, tổ chức có quyền lợi dân sự và tư cách pháp lý hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật nộp đơn yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự theo thủ tục TTDS nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hay lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng”.[4] Ngoài ra, nếu hiểu theo nghĩa rộng thì việc khởi kiện vụ án dân sự còn bao gồm cả việc đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Như vậy, mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về khởi kiện vụ án dân sự được đưa ra, nhưng nhìn chung, khởi kiện vụ án dân sự chính là hoạt động của chủ thể có quyền thực hiện quyền khởi kiện theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác khi các quyền và lợi ích này bị xâm phạm hay tranh chấp.

2. Đặc điểm của khởi kiện vụ án dân sự

Khởi kiện vụ án dân sự có những đặc điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, khởi kiện vụ án dân sự là hoạt động bảo vệ quyền dân sự của chủ thể khi họ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Việc lựa chọn phương thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, trong đó có phương thức khởi kiện vụ án dân sự, hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của chủ thể khi họ giả thiết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hay có tranh chấp. Hay nói cách khác, “chủ nợ có quyền đi thưa để đòi tiền người ta thiếu mình, nhưng không muốn sử dụng quyền này thì thôi, không ai cấm đoán”.[5]

Thứ hai, khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, pháp nhân thực hiện quyền tự định đoạt của mình. Quyền tự định đoạt của đương sự được hình thành dựa trên bản chất tự do thoả thuận của quan hệ pháp luật nội dung, nên có thể được thực hiện ngay khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS thông qua việc chủ thể hoàn toàn chủ động, bằng ý chí của mình quyết định yêu cầu hay không yêu cầu Toà án giải quyết một vụ án dân sự.

Thứ ba, khởi kiện vụ án dân sự là cơ sở để Toà án có thẩm quyền tiến hành thụ lý giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục TTDS. Theo đó, khởi kiện vụ án dân sự là hoạt động đầu tiên, có tính quyết định và là cơ sở làm phát sinh các hoạt động tố tụng dân sự khác. Hay nói cách khác, các hoạt động TTDS như thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm… sẽ không phát sinh nếu không có việc khởi kiện vụ án dân sự.

Thứ tư, khởi kiện vụ án dân sự là hoạt động do các chủ thể có quyền hoặc được pháp luật trao quyền thực hiện theo quy định của pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng. Về nguyên tắc, khi các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật nội dung mà có tranh chấp hoặc bị xâm phạm quyền và lợi ích thì các chủ thể này đều có quyền khởi kiện ra Toà án để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Ngoài ra, trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật thì các cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể khởi kiện để bảo vệ lợi ích của người khác, lợi ích Nhà nước hoặc lợi ích công cộng.[6]

Thứ năm, chủ thể khởi kiện chỉ được khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án giải quyết theo thủ tục TTDS khi vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết theo loại việc của Toà án. Không phải tất cả mọi tranh chấp mà chỉ những loại việc được pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của Toà án mới được giải quyết theo thủ tục TTDS. Do đó, chủ thể khởi kiện vụ án dân sự cũng chỉ được khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết theo thủ tục TTDS những tranh chấp thuộc thẩm quyền của Toà án.

3. Ý nghĩa của khởi kiện vụ án dân sự

Về phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, khởi kiện vụ án dân sự là phương thức giúp bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước; hiện thực hoá việc thực hiện quyền con người, quyền công dân trong TTDS, góp phần bảo đảm công bằng xã hội, củng cố niềm tin của người dân vào hoạt động tư pháp của Toà án, từ đó thúc đẩy nền kinh tế pháp triển; đồng thời, góp phần nâng cao ý thức thượng tôn pháp luật, tôn trọng các quyền và lợi ích dân sự hợp pháp của mọi chủ thể trong xã hội.

Về phương diện pháp lý, khởi kiện vụ án dân sự là căn cứ pháp lý quan trọng để các chủ thể có đầy đủ phương tiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và là bước đầu tiên, cơ sở để Toà án nhân danh Nhà nước tiến hành các thủ tục tố tụng khác.

Nguyễn Thị Lan Hương - Công ty Luật TNHH H&M


[1] Hoàng Phê (Chủ biên) (1988), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 548.

[2] Hoàng Phê (Chủ biên) (1988), sđd, tr. 548.

[3] Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 241.

[4] Nguyễn Thị Hương (2019), Khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sỹ Luật học, Hà Nội, tr. 31.

[5] Nguyễn Huy Đẩu (1962), Luật Dân sự - Tổ tụng Việt Nam, Xuất bản dưới sự bảo trợ của Bộ Tư pháp, Sài Gòn, tr. 37.

[6] Nguyễn Thị Ngọc (2019), Khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự từ thực tiễn thực hiện tại các Toà án nhân dân ở thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sỹ Luật học, Hà Nội, tr. 9.

Các tin khác