Vật quyền là khái niệm đã tồn tại cách đây hơn 2000 năm từ pháp luật La Mã. Theo đó, người La Mã cổ đại quan niệm, vật quyền là quyền được chủ thể thực hiện trực tiếp và tức thì trên một vật mà không cần đến vai trò của bất kỳ chủ thể nào khác. Điều này xuất phát từ cách hiểu về “vật” trong Luật La Mã là những thứ có biểu hiện vật chất và cảm nhận được qua giác quan của con người. Như vậy, khái niệm vật quyền trong La Mã cổ đại được nhìn nhận theo nghĩa hẹp – là những quyền được thực hiện trực tiếp trên một vật cụ thể, không bao gồm các tài sản như cổ tức, trái phiếu, chứng khoán, quyền đối với tài sản thế chấp… Tuy nhiên, có thể thấy rằng một số loại tài sản như giấy tờ có giá, quyền tài sản không được đề cập đến trong pháp luật La Mã là bởi chúng chưa xuất hiện và tồn tại trong đời sống kinh tế La Mã cổ đại.[1] Do đó, trong khoa học pháp lý hiện đại, “vật” còn được hiểu như một quyền trừu tượng mà con người có được đối với vật.[2]
Như vậy, khái niệm vật quyền trong xã hội hiện đại ngày nay có thể được hiểu dưới hai góc độ như sau:
Dưới góc độ chủ quan, vật quyền có thể được hiểu là quyền củ một chủ thể bằng hành vi của mình tác động lên tài sản theo ý chí của mình mà không phụ thuộc vào người khác để nhằm thoả mãn lợi ích của mình.[3] Cùng góc độ này, Từ điển Luật học cũng định nghĩa vật quyền là “quyền thực hiện trực tiếp trên vật và có tác dụng mang lại cho người có quyền toàn bộ hoặc một phần tiện tích kinh tế của vật đó”.[4]
Dưới góc độ khách quan, vật quyền là “toàn bộ các quy phạm pháp luật quy định về các loại vật quyền và nội dung của từng loại vật quyền, về căn cứ phát sinh, chấm dứt các loại vật quyền, nguyên tắc thực hiện, bảo vệ vật quyền, về các hạn chế quyền mà người có vật quyền phải tuân thủ khi thực hiện các quyền năng của mình”.[5] Lúc này, vật quyền được nhìn nhận theo hệ thống các quy phạm trực tiếp điều chỉnh và nội dung luật điều chỉnh đối với vật quyền.[6]
2. Đặc điểm pháp lý của vật quyền
Với cách hiểu là quyền của một người chi phối trực tiếp đối với một vật, vật quyền có các đặc điểm pháp lý cơ bản như sau:
Thứ nhất, tính đối vật. Theo đó, các chủ thể bằng hành vi của mình tác động trực tiếp lên tài sản, thể hiện mối liên hệ trực tiếp giữa người với vật mà không phụ thuộc vào người thứ ba. Ngoài ra, tính đối vật còn thể hiện qua trường hợp chủ thể có vật quyền tác động lên tài sản của người khác.
Thứ hai, tính tuyệt đối. Vật quyền có hiệu lực đối với tất cả các chủ thể và phải được mọi người tôn trọng, không bị xâm phạm bởi bất kỳ chủ thể nào khác. Theo đó, vật quyền phải luôn tồn tại một cách rõ ràng, không thể lúc ẩn, lúc hiện để người thứ ba có thể nhận biết và đảm bảo tính đối kháng.
Thứ ba, tính lâu dài. Các vật quyền không bị hạn chế bởi thời gian mà tồn tại lâu dài gắn liền với sự tồn tại của tài sản. Chủ thể có vật quyền sẽ được tác động, chi phối tài sản trong khoảng thời gian dài, ổn định và vật quyền sẽ chỉ mất đi khi tài sản đó không còn tồn tại nữa.
Thứ tư, tính theo đuổi vật. Đặc tính này được hiểu là người có quyền đối vật có thể thực hiện quyền của mình đối với tài sản, bất kể tài sản đang nằm trong tay người nào và trong bất kỳ hoàn cảnh nào.[7] Hay nói cách khác, dù tài sản có chuyển dịch hay thuộc kiểm soát của bất kỳ chủ thể nào trong xã hội thì chủ thể có vật quyền vẫn được tác động lên tài sản.
Thứ năm, tính dịch chuyển được. Vật quyền có thể được dịch chuyển từ chủ thể này sang chủ thể khác. Kể cả đối với quyền bề mặt, quyền địa dịch hay quyền hưởng dụng, khi chủ thể được cấp quyền muốn dịch chuyển quyền sang chủ thể khác cũng không cần đến sự cho phép, đồng ý của chủ sở hữu.
Thứ sáu, vật quyền cho phép người có quyền được ưu tiên thực hiện quyền của mình đối với tài sản. Cụ thể, vật quyền cho phép người có quyền thực hiện quyền của mình đối với tài sản nhằm thoả mãn lợi ích theo đuổi trước những người khác, đặc biệt là những người theo đuổi có cùng lợi ích đó.[8]
3. Các nguyên tắc chủ yếu của vật quyền
Thứ nhất, nguyên tắc vật quyền phải được pháp luật quy định. Theo đó, vật quyền có thể phát sinh từ nhiều căn cứ khác nhau nhưng các loại vật quyền và nội dung của chúng phải được quy định trong pháp luật. Các chủ thể hoàn toàn không có quyền thoả thuận để tại nên một vật quyền khác ngoài quy định của luật.
Thứ hai, nguyên tắc tuyệt đối. Vật quyền mang tính chất tuyệt đối khi có hiệu lực với tất cả mọi người. Nguyên tắc này của vật quyền nhằm chống lại tác động, gây rối loạn của người khác đối với vật bởi vật quyền là quyền chi phối trực tiếp đối với vật nên không thể xác lập cùng một lúc cùng một vật quyền có cùng nội dung về cùng một vật.[9]
Thứ ba, nguyên tắc công khai. Theo nguyên tắc này, vật quyền phải được công khai để đảm bảo cho bên thứ ba nhận biết được sự tồn tại, dịch chuyển của vật quyền, từ đó ghi nhận quyền cho chủ vật quyền và tránh rủi ro cho bên thứ ba.
Thứ tư, nguyên tắc tin cậy. Theo nguyên tắc tin cậy (hiệu lực công tín), người nào đã tin sự thể hiện về ngoài hoặc biểu trưng gì đó làm họ suy đoán rằng có sự tồn tại của vật quyền, cho dù sự thể hiện bề ngoài hoặc biểu trưng đó không có quyền thực sự kèm theo thì cũng phải bảo vệ sự tin cậy ấy.[10]
Nguyễn Thị Lan Hương - Công ty Luật TNHH H&M
[1] Nguyễn Minh Oanh (2018), Vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện đại, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 11
[2] Nguyễn Ngọc Điện (2009), Giáo trình Luật La Mã, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 11.
[3] Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Chế định vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện đại, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, Hà Nội, tr. 19.
[4] Viện khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa và Nxb. Tư pháp, tr. 847.
[5] Dương Đăng Huệ (2015), “Nên sử dụng khái niệm vật quyền trong Bộ luật Dân sự”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, (13), tr. 5.
[6] Phùng Trung Tập, Kiều Thị Thuỳ Linh (2021), Tài sản và vật quyền, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 72.
[7] Nguyễn Ngọc Điện (2000), Nghiên cứu về tài sản trong Luật Dân sự Việt Nam, Nxb. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 124.
[8] Lê Thị Hoàng Thanh, Đỗ Thị Thuý Hằng (2015), “Giới thiệu nội dung cơ bản của chế định vật quyền và vấn đề hoàn thiện Bộ luật Dân sự Việt Nam”, Tạp chí Thông tin Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, (5), tr. 7.
[9] Vũ Thị Hồng Yến (2015), “Áp dụng nguyên tắc vật quyền nhằm khắc phục những hạn chế của ché định tài sản và quyền sở hữu trong Bộ luật Dân sự”, Tạp chí Luật học, (2015), tr. 83.
[10] Hoàng Thị Thuý Hằng (2013), “Chế định vật quyền và vấn đề sửa đổi phần “Tài sản và quyền sở hữu” trong Bộ luật Dân sự năm 2005 của Việt Nam”, Tạp chí Luật học, (4), tr. 17.