0240.73088281
Logo

Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện nay về khởi kiện vụ án dân sự

Thứ nhất, sửa đổi quy định pháp luật về thời hạn đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Có thể thấy, việc mở một hay nhiều phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cũng như thời điểm mở các phiên họp này đều không bị pháp luật giới hạn cụ thể. Do đó, để tránh việc hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả các đương sự, cần sửa đổi quy định cụ thể về thời hạn bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu độc lập tại khoản 4 Điều 200 và khoản 2 Điều 201 BLTTDS năm 2015 theo hướng: “Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cuối cùng” và “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cuối cùng”.

Thứ hai, sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền theo loại việc của Toà án theo hướng không liệt kê các tranh chấp cụ thể. BLTTDS năm 2015 có thể sửa đổi các điều luật quy định về thẩm quyền theo loại việc của Toà án trong BLTTDS năm 2015 theo hướng: “Toà án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp, các yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật”.[1]

Thứ ba, cần quy định cụ thể như thế nào là “tài liệu, chứng cứ hiện có” tại khoản 5 Điều 189 BLTTDS năm 2015. Để đảm bảo sự thống nhất trong quá trình giải quyết vụ án cũng như nâng cao trách nhiệm của đương sự trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ, BLTTDS năm 2015 cần quy định rõ hoặc có hướng dẫn cụ thể về việc như thế nào là “tài liệu, chứng cứ hiện có” theo hướng đây là các tài liệu, chứng cứ mà đương sự đang nắm giữ. Bởi đối với các tài liệu, chứng cứ đang do các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác nắm giữ, quản lý sẽ cần có thời gian để thu thập, nếu quy định phải nộp cả những tài liệu, chứng cứ này kèm theo đơn khởi kiện sẽ gây khó khăn cho đương sự trong việc thực hiện quyền khởi kiện của mình.

Thứ tư, quy định cụ thể thời hạn đương sự thực hiện nghĩa vụ gửi bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự khác cũng như hậu quả pháp lý của việc đương sự không thực hiện nghĩa vụ nêu trên. Trong trường hợp này, các nhà làm luật có thể xem xét hậu quả pháp lý khi đương sự không thực hiện nghĩa vụ gửi bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự khác là tài liệu, chứng cứ đó sẽ không được sử dụng trong quá trình Toà án giải quyết vụ án, từ đó nâng cao trách nhiệm của các đương sự trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình.

Thứ năm, cần có quy định hướng dẫn cụ thể về việc như thế nào thì được coi là “nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau” trong quy định tại Điều 188 BLTTDS năm 2015. Theo đó, nội dung này cần được quy định cụ thể theo hướng “hẹp” hơn so với hướng dẫn trước đây tại Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP, trong đó có xem xét đến mức độ liên quan giữa các căn cứ, tình tiết, chứng cứ, tài liệu của các quan hệ pháp luật. Việc quy định cụ thể vấn đề này sẽ giúp cho Toà án xác định được chính xác hơn phạm vi giải quyết vụ án, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, bởi nếu các quan hệ pháp luật có liên quan với nhau thì cần được giải quyết trong cùng một vụ án mới đảm bảo được việc xác định chính xác sự thật khách quan.

Nguyễn Thị Lan Hương - Công ty Luật TNHH H&M


[1] Nguyễn Thị Hương (2019), Khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sỹ Luật học, Hà Nội, tr. 163.

Các tin khác