0240.73088281
Logo

Lỗi trong trái quyền ngoài thỏa thuận - Một số vấn đề lý luận

1. Khái niệm lỗi trong trái quyền ngoài thoả thuận
Trước hết, về khái niệm lỗi, theo cách hiểu thông thường, “lỗi” là “sai sót, không đúng với quy định hoặc với lẽ phải”.[1] Dưới góc độ khoa học pháp lý, nhìn chung, các quan điểm hiện nay đều cho rằng lỗi là "trạng thái tâm lý" của người thực hiện hành vi trái pháp luật. Chẳng hạn, "Giáo trình Lí luận chung về Nhà nước và Pháp luật" của trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng "lỗi là trạng thái tâm lý phản ánh thái độ tiêu cực của một người đối với hành vi trái pháp luật của họ và hậu quả của hành vi đó".[2] Một số tác giả cũng đưa ra khái niệm tương tự như tác giả Trương Anh Tuấn cho rằng "lỗi là trạng thái tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại"[3] hay tác giả Lê Thị Giang cũng cho rằng "Xét về hình thức thì lỗi là thái độ tâm lý của người thực hiện hành vi gây ra thiệt hại".[4]

Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có cả những quan điểm khác về lỗi như quan điểm của tác giả Phạm Văn Tuyết khi khẳng định "lỗi là nhận thức chủ quan và theo đó tâm lý của chủ thể được thể hiện ra bên ngoài bằng những hành vi nhất định". Tác giả cho rằng "thái độ tâm lý" chỉ là sự phản ánh mong muốn ý chí (cố ý hay vô tình) nên nếu định nghĩa về lỗi mà chỉ dừng lại ở "thái độ tâm lý" của người thực hiện hành vi là chưa đủ vì ngoài tâm lý (mong muốn chủ quan) ra thì hành vi còn được thực hiện trong những điều kiện nhận thức khác nhau và mỗi một điều kiện nhận thức tạo ra một hình thức lỗi khác nhau.[5] Ngoài ra, tác giả Phạm Kim Anh nêu quan điểm "lỗi trong pháp luật dân sự không thể coi là trạng thái tâm lý, là nhận thức của chủ thể đối với hành vi và hậu quả do hành vi đó gây ra".[6] Bởi trong luật dân sự, nhiều trường hợp hành vi vi phạm nghĩa vụ diễn ra trong một quá trình và có thể nói là không liên quan gì đến trạng thái tâm lý hay nhận thức của người vi phạm.[7] Từ đó, tác giả cho rằng “...cần thiết phải xây dựng khái niệm lỗi dựa trên sự quan tâm, chu đáo của chủ thể đối với việc thực hiện nghĩa vụ của mình. Một cá nhân hay pháp nhân được coi là có lỗi nếu khi áp dụng tất cả mọi biện pháp để thực hiện đúng nghĩa vụ đã biểu hiện sự quan tâm chu đáo mà tính chất của nghĩa vụ và điều kiện lưu thông dân sự yêu cầu đối với họ”.[8]

Như vậy, trên thực tế vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm lỗi và chưa có cách hiểu thống nhất. Qua những nghiên cứu của mình, tác giả đồng ý với quan điểm “lỗi là thái độ tâm lý của người có hành vi gây ra thiệt hại[9] và được coi là yếu tố gắn liền với hành vi gây thiệt hại trái pháp luật của con người.[10] Bởi lẽ cách nhìn nhận như vậy là phù hợp với lý luận về vi phạm pháp luật nói chung và phù hợp với quan điểm cho rằng lỗi là một yếu tố nằm trong mặt chủ quan - một trong bốn yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật.[11]

Về khái niệm trái quyền hay quyền đối nhân, đây là quyền cho phép một người gọi là trái chủ đòi hỏi một người khác, gọi là thụ trái, thực hiện một việc.[12] Tương tự với cách hiểu như trên, Từ điển Black’s Law cũng giải thích: “Quyền đối nhân là một quyền áp đặt một nghĩa vụ đối với một người xác định”.[13] Như vậy, trái quyền được hiểu là quyền của một chủ thể được phép yêu cầu một chủ thể khác thực hiện nghĩa vụ đối với mình.

Từ khái niệm nêu trên, có thể thấy bản chất pháp lý của trái quyền chính là một quan hệ nghĩa vụ tồn tại giữa bên có quyền yêu cầu (trái chủ) và bên có nghĩa vụ (thụ trái). Cụ thể, giống như trái quyền, nghĩa vụ cũng được hiểu là sự ràng buộc về mặt pháp lý giữa bên có nghĩa vụ với bên có quyền, theo đó, bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ trước bên có quyền nhằm đem lại lợi ích nhất định cho họ.[14] Hay nói cách khác, nghĩa vụ là mối quan hệ phát sinh giữa một hay nhiều chủ thể phải làm một công việc, thực hiện một hành vi hoặc không được làm một công việc, một hành vi, vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác.[15] Bên phải làm hoặc không được làm những công việc được gọi là bên có nghĩa vụ, còn bên dược hưởng lợi ích từ việc bên kia thực hiện hoặc không thực hiện một công việc được gọi là bên có quyền.[16] Vì vậy, nghĩa vụ cũng mang bản chất pháp lý là “quyền của một người nhất định yêu cầu một người khác thực hiện các hành vi nhất định”.[17] Bản chất này cũng đã được khẳng định bởi Luật gia PaVel khi nghiên cứu về nghĩa vụ trong luật La Mã cổ đại: “Bản chất của nghĩa vụ không phải ở chỗ đem lại cho chúng ra một vật thể hay một Servitus nào đó mà là buộc một người nào đó phải đem lại hay làm một việc gì đó cho chúng ta”.[18]

Có nhiều cách phân loại trái quyền dựa vào các căn cứ khác nhau, một trong số đó là phân loại trái quyền thành trái quyền theo thoả thuận và trái quyền ngoài thoả thuận. Trái quyền theo thoả thuận có thể hiểu là quan hệ nghĩa vụ được xác lập từ sự thoả thuận giữa các bên chủ thể và sự thoả thuận này hướng tới việc làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nghĩa vụ. Ngược lại, trái quyền ngoài thoả thuận lại là quan hệ nghĩa vụ không được xác lập từ sự thoả thuận giữa bên chủ thể, mà được xác lập từ những sự kiện pháp lý theo quy định của pháp luật. Nói một cách cụ thể, nếu trong trái quyền theo thoả thuận, các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng những nội dung đã thoả thuận, thì trong trái quyền ngoài thoả thuận, nghĩa vụ phát sinh không dựa vào bất kỳ một thoả thuận từ trước nào mà dựa vào những căn cứ theo quy định của pháp luật như hành vi pháp lý đơn phương, thực hiện công việc không có uỷ quyền, gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật…

Từ đó, có thể hiểu, trái quyền ngoài thoả thuận là một quan hệ nghĩa vụ mà bên có quyền có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện một số hành vi nhất định hoặc có nghĩa vụ về tài sản phát sinh từ những sự kiện pháp lý do pháp luật quy định vì lợi ích của bên có quyền.

Như vậy, từ khái niệm về lỗi và khái niệm về trái quyền ngoài thoả thuận như đã phân tích, lỗi trong trái quyền ngoài thoả thuận chính là thái độ tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ những sự kiện pháp lý được pháp luật quy định.

Theo khái niệm trên, mặc dù có nhiều sự kiện pháp lý khác nhau là căn cứ xác lập quan hệ trái quyền ngoài thoả thuận, nhưng chỉ khi nào có hành vi gây thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ những sự kiện pháp lý đó thì mới xuất hiện yếu tố lỗi. Việc xem xét yếu tố lỗi trong trường hợp này chính là để xác định trách nhiệm dân sự ngoài thoả thuận, hay chính là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bởi “nói tới trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng tức là nêu lên vấn đề bồi thường”.[19]

2. Đặc điểm của lỗi trong trái quyền ngoài thoả thuận

Thứ nhất, lỗi trong trái quyền ngoài thoả thuận luôn gắn với hành vi vi phạm nghĩa vụ ngoài thoả thuận của chủ thể xác định. Nếu lỗi trong trái quyền theo thoả thuận gắn với hành vi vi phạm nghĩa vụ mà các chủ thể đã thoả thuận với nhau từ trước, thì lỗi trong trái quyền ngoài thoả thuận lại gắn với hành vi vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ những sự kiện pháp lý do pháp luật quy định. Đây chính là đặc điểm cơ bản nhằm phân biệt giữa lỗi trong trái quyền ngoài thoả thuận với lỗi trong trái quyền theo thoả thuận.

Thứ hai, lỗi trong trái quyền ngoài thoả thuận là yếu tố luật định. Việc xác định có hay không có lỗi của một chủ thể trong quan hệ trái quyền ngoài thoả thuận phải căn cứ vào các quy định pháp luật bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Kể cả trong những trường hợp được lỗi không phải là yếu tố bắt buộc khi xác định trách nhiệm dân sự hay là căn cứ để được miễn trừ trách nhiệm dân sự… đều phải do pháp luật quy định.

Thứ ba, lỗi trong trái quyền ngoài thoả thuận là căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự ngoài thoả thuận. Khi một chủ thể có hành vi vi phạm nghĩa vụ ngoài thoả thuận thì chủ thể đó sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự. Mặt khác, như đã phân tích, lỗi lại là yếu tố gắn liền với hành vi vi phạm nghĩa vụ của chủ thể. Do đó, lỗi trong trái quyền ngoài thoả thuận được xem là một trong những căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự ngoài thoả thuận.

Thứ tư, lỗi trong trái quyền ngoài thoả thuận là lỗi suy đoán. Theo đó, khi một chủ thể có hành vi vi phạm nghĩa vụ ngoài thoả thuận thì chủ thể đó được suy đoán là đã lỗi mà không cần phải chứng minh.

3. Phân loại lỗi trong trái quyền ngoài thoả thuận

Có nhiều cách phân loại lỗi trong trái quyền ngoài thoả thuận tuỳ thuộc vào những căn cứ khác nhau. Cụ thể:

Căn cứ vào hình thức của lỗi sẽ bao gồm lỗi cố ý và lỗi vô ý. Theo đó, lỗi cố ý trong trái quyền ngoài thoả thuận là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi vi phạm nghĩa vụ ngoài thoả thuận của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra. Còn lỗi vô ý trong trái quyền ngoài thoả thuận là trường hợp một người không thấy trước hành vi vi phạm nghĩa vụ ngoài thoả thuận của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.

Căn cứ vào chủ thể bị xác định là có lỗi sẽ bao gồm lỗi của người phải bồi thường và lỗi của người được bồi thường. Lỗi của người phải bồi thường là lỗi của các chủ thể như người gây thiệt hại, người quản lý người gây thiệt hại, người thứ ba…  trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài thoả thuận. Trường hợp này, người bồi thường chính là người gây ra thiệt hại và họ đương nhiên phải chịu trách nhiệm dân sự đối với hành vi gây thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ ngoài thoả thuận của mình. Còn lỗi của người được bồi thường chính là lỗi của chủ thể bị thiệt hại trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài thoả thuận. Trường hợp này, người gây ra thiệt hại sẽ không phải chịu trách nhiệm ngoài thoả thuận đối với phần thiệt hại gây ra do lỗi của người bị thiệt hại.

Căn cứ vào vai trò của yếu tố lỗi sẽ bao gồm lỗi là điều kiện làm phát sinh trách nhiệm dân sự ngoài thoả thuận, lỗi là căn cứ loại trừ trách nhiệm dân sự ngoài thoả thuận, lỗi là căn cứ xác định chủ thể chịu trách nhiệm dân sự ngoài thoả thuận, lỗi là căn cứ xác định loại trách nhiệm dân sự ngoài thoả thuận, lỗi là căn cứ xác định mức chịu trách nhiệm dân sự ngoài thoả thuận, lỗi là căn cứ giảm mức chịu trách nhiệm dân sự ngoài thoả thuận.

Căn cứ vào mức độ lỗi của chủ thể sẽ bao gồm lỗi đối với toàn bộ thiệt hại và lỗi đối với một phần thiệt hại. Lỗi đối với toàn bộ thiệt hại là trường hợp người có hành vi gây thiệt hại hoàn toàn có lỗi, khi đó người có hành vi gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm dân sự ngoài thoả thuận. Còn lỗi đối với một phần thiệt hại là trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại hoặc thiệt hại xảy ra ngoài lỗi của chủ sở hữu, người sử dụng tài sản còn có lỗi của người quản lý có quyền khai thác tài sản, người chiếm hữu tài sản, người thứ ba (người thi công công trình liền kề, người khai thác các sự vật liền kề…). Khi đó, trách nhiệm dân sự ngoài thoả thuận của mỗi chủ thể được xác định tương ứng với mức độ lỗi của họ.[20]

4. Cơ sở xác định lỗi trong trái quyền ngoài thoả thuận

Thứ nhất, đối với trường hợp thiệt hại do hành vi của con người gây ra. Trong trường hợp này, hành vi gây thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ ngoài thoả thuận là một trong những điều kiện làm phát sinh trách nhiệm dân sự. Mặt khác, lỗi lại là yếu tố gắn liền với hành vi gây thiệt hại của con người và để xác định có lỗi hay không có lỗi, trước hết căn cứ vào tính trái pháp luật của hành vi.[21] Do đó, đối với trường hợp thiệt hại do hành vi của con người gây ra, cơ sở để xác định lỗi là tính trái pháp luật của hành vi gây thiệt hại và năng lực nhận thức, làm chủ hành vi của chủ thể.

Thứ hai, đối với trường hợp thiệt hại do tài sản gây ra. Trong trường hợp này, chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc chủ thể khác có liên quan bị suy đoán là có lỗi trong việc quản lý tài sản. Cụ thể, lỗi của các chủ thể nêu trên là đã vi phạm các nguyên tắc quản lý, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các quy định pháp luật về quản lý tài sản. Đây là trường hợp lỗi gắn với hành vi dưới dạng không hành động, tức là chủ thể đã không thực hiện những nghĩa vụ ngoài thoả thuận được pháp luật quy định như nghĩa vụ trông coi, quản lý, sử dụng, vận chuyển… tài sản. Do đó, đối với trường hợp thiệt hại do tài sản gây ra, cơ sở để xác định lỗi là hành vi vi phạm nghĩa vụ ngoài thoả thuận về quản lý, sử dụng tài sản.

Nguyễn Thị Lan Hương - Công ty Luật TNHH H&M


[1] Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (1998), Từ điển tiếng Việt thông dụng, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

[2] Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Lí luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 421.

[3] Trương Anh Tuấn (Chủ biên) (2009), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự phần Nghĩa vụ và Hợp đồng dân sự, Nxb. Lao động, Hà Nội, tr. 576.

[4] Nguyễn Minh Tuấn (Chủ biên) (2016), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 820.

[5] Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng – Thực trạng và giải pháp, Kỷ yếu khoa học cấp trường, Hà Nội., tr. 13.

[6] Phạm Kim Anh (2008), Trách nhiệm dân sự liên đới bồi thường thiệt hại trong pháp luật dân sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Hà Nội, tr. 83.

[7] Phạm Kim Anh (2003), "Khái niệm lỗi trong trách nhiệm dân sự", Khoa học pháp lý, (03), tr. 32.

[8] Phạm Kim Anh (2009), “Trách nhiệm dân sự và chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2005 – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện”, Khoa học pháp lý, (6), tr.3.

[9] Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (tập 2), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 286.

[10] Nguyễn Văn Hợi (2020), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 44.

[11] Nguyễn Danh Kiên (2022), Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Luận văn thạc sỹ Luật học, Hà Nội, tr. 11.

[12] Nguyễn Ngọc Điện (2010), “Sự cần thiết của việc xây dựng các chế định vật quyền và trái quyền trong luật dân sự”, Nghiên cứu lập pháp, (23), tr. 57  

[13] Deluxe Black’s Law Dictionary (1990), West Publishing Co.

[14] Hoàng Quốc Hưng (2013), Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sỹ Luật học, Hà Nội, tr. 9.

[15] Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển bách khoa và Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 560.

[16] Phạm Văn Tuyết (Chủ biên) (2017), Hướng dẫn môn học Luật Dân sự (tập 2), Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 7.

[17] Xaca Vacaxum, Tori Aritdumi (1995), Bình luận Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 343.

[18] Nguyễn Ngọc Đào (1994), Luật La Mã, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr. 73.

[19] Nguyễn Mạnh Bách (1998), Nghĩa vụ dân sự trong Luật dân sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 237.

[20] Đỗ Đức Thiện (2022), Yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015, Luận văn thạc sỹ Luật học, Hà Nội, tr. 15.

[21] Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (Đồng chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 872.

Các tin khác