Thứ nhất, pháp luật về quản trị CTCP ở Việt Nam đã quy định khá cụ thể, rõ ràng về cơ cấu, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các thiết chế trong mô hình quản trị CTCP. Đồng thời, các quy định cũng thường xuyên được cập nhật, sửa đổi, bổ sung để hướng tới việc hoàn thiện mô hình quản trị công ty theo chuẩn mực, thông lệ quốc tế tốt và phổ biến, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng cho các chủ đầu tư và chủ thể có liên quan một cách tối ưu.[2]
Thứ hai, việc LDN năm 2014 và mới đây là LDN năm 2020 quy định về việc CTCP “có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có BKS” chính là một sự tiến bộ so với LDN trước đây khi quy định CTCP “có trên 11 cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có BKS”. Theo đó, mô hình quản trị CTCP có BKS hay không có BKS hiện nay đã không chỉ căn cứ vào một trong hai yếu tố là số lượng cổ đông hoặc yếu tổ sở hữu cổ phần của cổ đông là tổ chức, mà phải có đồng thời cả hai yếu tố trên. Bởi CTCP có cổ đông là tổ chức thì việc quản lý sẽ phức tạp hơn so với việc chỉ có cổ đông là cá nhân cũng như việc chiếm trên 50% tổng số cổ phần là một số lượng lớn. Do đó, cần có quy chế kiểm soát hợp lý để cân bằng quyền lợi của các cổ đông, đảm bảo cho công ty hoạt động một cách hiệu quả nên quy định của LDN hiện nay đã góp phần làm chặt chẽ hơn mô hình quản trị của CTCP.
Thứ ba, LDN không hạn chế số lần họp đại hội đồng cổ đông bất thường là bao nhiêu lần trong một năm là quy định mang tính mềm dẻo, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc họp CTCP hoạt động có hiệu quả. Bởi lẽ, trong quá trình kinh doanh có những vấn đề phát sinh đột suất đòi hỏi cần được giải quyết kịp thời mà vấn đề đó lại thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ, nên nếu không quy định cuộc họp bất thường thì không thể đáp ứng được nhu cầu kinh doanh của công ty vì không thể cứ phải chờ đến cuộc họp thường niên của ĐHĐCĐ vốn mỗi năm chỉ họp một kỳ.
Thứ tư, các quy định về trình tự, thủ tục triệu tập họp ĐHĐCĐ của LDN năm 2020 về cơ bản đảm bảo cho cổ đông được đối xử công bằng trong việc tiếp cận các thông tin liên quan đến cuộc họp cũng như sự chuẩn bị cần thiết của từng cổ đông phục vụ cho cuộc họp. Đồng thời, các quy định này cũng tạo điều kiện cho các cổ đông có thông tin như nhau và có sự chuẩn bị tối đa, cần thiết trước khi tham dự cuộc họp để biểu quyết thông qua các quyết định quan trọng thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ.
Thứ năm, các quy định của LDN năm 2020 hiện nay về BKS đã khá đầy đủ và có những ưu điểm như địa vị pháp lý và tính độc lập của BKS được nâng cao so với HĐQT và người quản lý, đồng thời nhiệm vụ và phương thức làm việc của BKS cũng được quy định cụ thể, rõ ràng.
Bên cạnh ưu điểm, quy định của pháp luật Việt Nam về quản trị CTCP còn tồn tại một số những hạn chế, bất cập như sau:
Thứ nhất, nội dung về sự chuyển đổi, quá trình chuyển đổi mô hình quản trị CTCP chưa được luật quy định rõ ràng. Bởi lẽ, trên thực tế sẽ có những trường hợp từ CTCP thay đổi mô hình quản trị công ty từ CTCP không có BKS sang mô hình CTCP bắt buộc phải có BKS và ngược lại. Tuy nhiên, việc xác định yêu cầu về thời hạn tối đa phải thực hiện thiết lập BKS hoặc Uỷ ban kiểm toán trong trường hợp này chưa được pháp luật quy định. Điều này vô hình chung có thể gây ra việc “trì hoãn”, chậm trễ của doanh nghiệp chuyển đổi mô hình CTCP.[3]
Thứ hai, HĐQT tại nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay vẫn thiên về điều hành hơn là quản lý chiến lược và giám sát. Bên cạnh đó, do LDN chưa có các quy định chặt chẽ nên trong các CTCP ở Việt Nam, quyền sở hữu và quyền quản lý điều hành chưa được tách bách rõ ràng khi đa số thành viên của HĐQT vẫn là các thành viên điều hành, trong khi nếu các thành viên không tham gia điều hành thì thành viên đó lại không thể độc lập vì phụ thuộc rất nhiều vào sự chỉ đạo của Chủ tịch HĐQT, các thành viên điều hành và các cổ đông lớn của công ty.[4] Ngoài ra, LDN năm 2020 và Nghị định 47/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của LDN đều không có quy định riêng về quyền, nghĩa cụ của thành viên độc lập HĐQT, từ đó không thể hiện được sự khác biệt về quyền, nghĩa vụ giữa thành viên độc lập và các thành viên khác của HĐQT. Việc thiếu vắng những quy định này có thể dẫn đến những hệ luỵ ảnh hưởng đến nhận thức về vai trò cũng như hiệu quả hoạt động của thành viên độc lập HĐQT trong cơ cấu quản trị.[5]
Thứ ba, pháp luật hiện nay chưa có quy định về tiêu chuẩn, điều kiện để trở thành Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của CTCP thông thường không phải công ty đại chúng hay doanh nghiệp nhà nước và công ty con của doanh nghiệp nhà nước. Đây chính là một trong những bất cập của pháp luật điều chỉnh về cơ chế bổ nhiệm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của CTCP - một chức danh quan trọng trong công ty lại không hề phải đáp ứng những điều kiện nhất định.
Thứ tư, quy định về việc kiểm soát viên “không nhất thiế phải là cổ đông hoặc người lao động của công ty” tại điểm d khoản 1 Điều 169 LDN năm 2020 dễ dẫn đến việc không đảm bảo được tính độc lập của Kiểm soát viên. Trên thực tế, các CTCP thường để người lao động giữ vai trò là Kiểm soát viên trong BKS đã làm Kiểm soát viên không được công tâm trong quá trình giám sát. Cùng một lúc, một người giữ hai vai trò là giám sát và người lao động đã tạo nên mâu thuẫn lợi ích trong quan hệ với người điều hành công ty khiến cá nhân chịu nhiều áp lực. Thông thường, cá nhân sẽ có xu hướng chọn vai trò người lao động bởi thu nhập của họ chủ yếu xuất phát từ vai trò này. Sự kiêm nhiệm trong trường hợp này đã làm giảm sút đáng kể hiệu quả làm việc của Kiểm soát viên.
Thứ năm, pháp luật hiện nay chưa có quy định về cơ chế đảm bảo thực thi quyền lực của BKS. Cụ thể, là một trong bốn nhánh quyền quản trị CTCP nhưng vai trò của BKS dường như “mờ nhạt” và hoạt động kém hiệu quả. Văn bản do BKS ban hành về việc kiểm tra, giám sát chỉ có ý nghĩa thông báo. Khi phát hiện có thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc vi phạm quy định thì BKS phải thông báo ngay bằng văn bản với HĐQT, người yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi và có giải pháp khắc phục hậu quả. LDN hiện nay không đưa ra bất kỳ cơ chế nào đảm bảo thực thi các quyết định của BKS đã khiến BKS dường như chỉ có chức năng “xem xét” cũng như kiến nghị mà không có quyền quyết định. Điều này làm giảm sự coi trọng của thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc đối với BKS.[6]
Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam hiện nay về quản trị CTCP có thể kể đến bao gồm
Thứ nhất, pháp luật Việt Nam cần bổ sung thêm những quy định về việc chuyển đổi mô hình quản trị CTCP như nội dung chuyển đổi, quá trình chuyển đổi, thời hạn chuyển đổi… Việc bổ sung các quy định này không những tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể thay đổi mô hình quản trị CTCP một cách thuận lợi để đáp ứng sự phù hợp trong tính chất hoạt động của mình, mà còn hạn chế được sự chậm trễ của công ty trong việc hoàn thiện các cơ quan của mô hình quản trị sau khi chuyển đổi.
Thứ hai, bổ sung các quy định pháp luật về tiêu chuẩn để trở thành Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Theo đó, pháp luật cần xem xét những tiêu chuẩn, điều kiện để đảm bảo Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải là người có tầm nhìn, xác định đúng mục tiêu, hướng đi của CTCP nhằm phục vụ cho mục tiêu công ty.
Thứ ba, pháp luật về quản trị CTCP cần có những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của thành viên độc lập HĐQT để thấy được sự khác biệt với các thành viên khác của HĐQT cũng như thấy rõ hơn vai trò của những thành viên độc lập này. Chính phủ cần có hướng dẫn, quy định rõ ràng theo hướng thành viên độc lập HĐQT có vai trò thực hiện chức năng giám sát, kiểm soát hoạt động của HĐQT nhằm nâng cao tính khách quan, minh bạch, hiệu quả và chất lượng các quyết định của HĐQT. Quy định thành viên độc lập HĐQT phải trình bày, công bố báo cáo đánh giá của mình tại ĐHĐCĐ về hoạt động của HĐQT.[7]
Thứ tư, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về BKS. Cụ thể là bổ sung quy định về việc thành viên BKS không đồng thời là người lao động hoặc kiêm nhiệm các chức danh khác trong công ty. Ngoài ra cần có các quy định pháp luật nhằm mở rộng thẩm quyền của BKS để nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan này trong việc quản trị CTCP. Theo đó, BKS có thẩm quyền yêu cầu chấm dứt các hành vi vi phạm của thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và có quyền quyết định các biện pháp xử phạt mang tính “vật chất” nếu các đối tượng không tuân thủ hoặc vẫn có tình tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm. Bên cạnh đó còn có thể bổ sung quy định pháp luật về việc BKS có quyền đánh giá mức độ tín nhiệm với các thành viên HĐQT và các chức danh quản lý khác trong công ty, sau đó công khai việc đánh giá này trong cuộc họp của ĐHĐCĐ.
Nhìn chung, pháp luật Việt Nam, đặc biệt là LDN năm 2020 đã tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy quản trị công ty nói chung, quản trị CTCP nói riêng ngày càng đạt chuẩn theo thông lệ tốt và phổ biến trong khu vực cũng như trên thế giới.[8] Mô hình quản trị CTCP hiện nay mà pháp luật Việt Nam ghi nhận đã xây dựng cấu trúc quản lý, điều hành khá hài hoà và phù hợp, do đó không cần thiết phải xây dựng một mô hình quản trị mới hoàn toàn mà thay vào đó nên phát huy sự hài hoà của cấu trúc hiện tại thông qua việc hoàn thiện các cơ chế, quy trình đang bất cập và thiếu sót.[9]
Nguyễn Thị Lan Hương - Công ty Luật TNHH H&M
[1] Trường Đại học Luật Hà Nội (2020), Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam (tập 1), Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 168.
[2] Phạm Quý Đạt (2022), Mô hình quản trị công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện hành, Luận án tiến sỹ Luật học, Hà Nội, tr. 87.
[3] Phạm Quý Đạt (2022), Mô hình quản trị công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện hành, Luận án tiến sỹ Luật học, Hà Nội, tr. 88.
[4] Phạm Quý Đạt (2020), “Hoàn thiện pháp luật về Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần Việt Nam”, Tạp chí Nghề luật, (5), tr. 24
[5] Phan Đăng Hải (2019), “Hoàn thiện pháp luật về Hội đồng quản trị công ty niêm yết”, Tạp chí Nghề luật, Hà Nội, (1), tr. 53.
[6] Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Pháp luật Việt Nam về quản trị công ty và xu thế phát triển, Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Khoa, Hà Nội, tr. 51.
[7] Nguyễn Thị Hải Linh (2020), Mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị và Ban giám đốc Công ty cổ phần theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luận văn thạc sỹ Luật học, Hà Nội, tr. 71.
[8] Vũ Huy Hoàng (2022), “Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thành viên Hội đồng quản trị Công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp năm 2020”, Tạp chí Nghề luật, Hà Nội, (11), tr. 47
[9] Phan Thị Bảo Yến (2014), Mô hình quản trị Công ty cổ phần tại Việt Nam hiện nay - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội, tr. 74.