1. Một số ưu điểm của quy định pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự
Thứ nhất, BLTTDS năm 2015 đã bổ sung thêm những trường hợp chủ thể có quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng. Cụ thể, ngoài các trường hợp đã được quy định tại Điều 162 BLTTDS năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011, để bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân cũng như đảm bảo quyền lợi cho nhóm các chủ thể yếu thế trong xã hội, BLTTDS năm 2015 đã cho phép Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Thứ hai, BLTTDS năm 2015 đã bổ sung phương thức gửi đơn khởi kiện trực tuyến đến toà án. Theo đó, ngoài hai phương thức thông thường là nộp trực tiếp tại Toà án hoặc gửi đến Toà án theo đường dịch vụ bưu chính, các chủ thể hiện nay đã có thể gửi đơn khởi kiện trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Toà án (nếu có). Đồng thời, Toà án nhân dân tối cao cũng đã ban hành Nghị quyết số 04/2016/NQ-HĐTP ngày 30/12/2016 để hướng dẫn thi hành cụ thể về phương thức này. Đây là điểm mới nhằm tiến tới hiện đại hoá hoạt động của Toà án và tạo mọi thuận lợi cho người khởi kiện.[1]
Thứ ba, thời hiệu khởi kiện không còn là một trong những điều kiện khởi kiện vụ án dân sự. Theo quy định tại khoản 2 Điều 184 BLTTDS năm 2015: “Toà án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Toà án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án. Người hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ”, đồng thời, hết thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự cũng không còn là một trong những căn cứ để Thẩm phán trả lời đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 192 BLTTDS năm 2015. Việc thay đổi quy định này cho thấy cơ sở pháp lý của việc áp dụng thời hiệu khởi kiện đã dựa trên nguyên tắc tự nguyên, tự do thoả thuận và tôn trọng ý chí của các đương sự. Xét về nguyên tắc, đó cũng chính là một định hướng dự trù đến khả năng thoả thuận của các đương sự trong việc áp dụng các nội dung có liên quan đến yếu tố thời hiệu.[2]
2. Một số hạn chế của quy định pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự
Thứ nhất, quy định về thời hạn đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn bất cập và chưa rõ ràng. Cụ thể, theo quy định tại khoản 3 Điều 200 và khoản 2 Điều 201 BLTTDS năm 2015 thì bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập “trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải”. Mặt khác, đương sự có quyền đề nghị Toà án tiến hành hoà giải bất cứ lúc nào và không giới hạn ở số lần hoà giải. Khi đó, bị đơn, người liên quan có quyền đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu đốc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng và hoà giải lần đầu tiên hay lần cuối cùng vẫn là vấn đề đang có nhiều cách hiểu không thống nhất do quy định của pháp luật không rõ ràng, cụ thể.
Thứ hai, quy định liên quan đến điều kiện về thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự theo loại việc của Toà án còn nhiều vướng mắc, hạn chế. Cụ thể, “một vài điều luật của BLTTDS không thể khái quát hết các loại việc được điều chỉnh trong cả ngàn điều luật của pháp luật nội dung về dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại, lao động. Hơn nữa, trên thực tế, có những loại việc không được pháp luật nội dung quy định thì Toà án vẫn phải giải quyết”.[3] Để bổ sung cho quy định về thẩm quyền loại việc theo hướng liệt kê, khoản 2 Điều 4 BLTTDS năm 2015 đã quy định “Toà án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”. Những vụ việc dân sự này chưa có quy phạm pháp luật cụ thể điều chỉnh mà cần đến áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, các nguyên tắc cơ bản của luật dân sự, án lẽ hay lẽ công bằng để giải quyết. Tuy vậy, cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau trong việc áp dụng quy định này, bởi việc hiểu như thế nào là “lẽ công bằng” cũng hết sức định tính, có phần chủ quan và dường như quy định này chỉ mang tính dự liệu, đặt ra thêm một phương pháp khác để có thể giải quyết được vụ việc dân sự.[4]
Thứ ba, quy định về tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện còn tồn tại vướng mắc. Tại khoản 5 Điều 189 BLTTDS năm 2015 quy định: “Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm”. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về việc như thế nào là “tài liệu, chứng cứ hiện có”. “Hiện có” trong trường hợp này được hiểu là tài liệu, chứng cứ người khởi kiện đang nắm giữ hay có tài liệu, chứng cứ nhưng tài liệu, chứng cứ này lại do cá nhân, cơ quan, tổ chức khác quản lý. Đồng thời, tại phần 5 Giải đáp số 01/GĐ-TANDTC ngày 25/7/2016 của TANDTC đã nêu: “Trường hợp người khởi kiện không nộp kèm theo bất cứ tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh thì phải có văn bản tường trình, giải thích lý do không có tài liệu, chứng cứ để nộp cho Toà án hoặc không thể thu thập được tài liệu, chứng cứ và yêu cầu Toà án thu thập tài liệu, chứng cứ. Trường hợp lý do việc không nộp được tài liệu, chứng cứ là chính đáng thì Toà án tiến hành thụ lý vụ án và thực hiện việc thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 97 BLTTDS năm 2015”. Tuy nhiên, cụm từ “chính đáng” trong quy định trên còn trừu tượng và chưa rõ ràng.
Thứ tư, pháp luật chưa có quy định cụ thể về thời hạn người khởi kiện phải gửi bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự khác cũng như hậu quả pháp lý của việc không thực hiện nghĩa vụ này. Theo quy định tại khoản 9 Điều 70 BLTTDS năm 2015 quy định đương sự khi tham gia tố tụng “có nghĩa vụ gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ, trừ tài liệu, chứng cứ mà đương sự khác đã có, tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này”. Tuy nhiên, pháp luật lại không có quy định thời hạn thực hiện nghĩa vụ này là bao lâu và nếu đương sự không thực hiện nghĩa vụ thì biện pháp xử lý là gì. Điều này sẽ dẫn đến việc có những trường hợp đương sự không sao gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác, ảnh hưởng đến quyền tiếp cận chứng cứ của đương sự trong TTDS cũng như không đảm bảo nguyên tắc tranh tụng khi xét xử vụ án.
Thứ năm, quy định về phạm vi khởi kiện tại Điều 188 BLTTDS năm 2015 có phần chưa cụ thể, rõ ràng. Hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn chi tiết như thế nào được coi là “nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau” trong quy định tại Điều 188 BLTTDS năm 2015. Trước đây, để hướng dẫn về nội dung này, Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP đã quy định hai trường hợp được coi là “nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau” bao gồm: (i) Việc giải quyết quan hệ pháp luật này đòi hỏi phải giải quyết đồng thời các quan hệ pháp luật khác; (ii) Việc giải quyết quan hệ pháp luật có cùng đương sự và về cùng loại tranh chấp quy định trong một điều luật tương ứng tại một trong các Điều 26, 28, 30 và 32 của BLTTDS bao gồm các loại tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Tuy nhiên, việc quy định phạm vi này là “quá rộng, không hợp lý, do trong cùng một điều luật, dù có cùng đương sự và cùng loại tranh chấp nhưng chúng được phát sinh từ những căn cứ khác nhau, tình tiết, những chứng cứ, tài liệu là khác nhau”.[5]
Nguyễn Thị Lan Hương - Công ty Luật TNHH H&M
[1] Trường Đại học Luật Hà Nội (2016), Bình luận những điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và những vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Hà Nội, tr. 16.
[2] Hà Hữu Dụng (2016), “Thời hiệu khởi kiện có là điều kiện để toà án thụ lý vụ án dân sự không?”, Tạp chí Nghề luật, (4), tr. 32.
[3] Tống Công Cường (2007), Luật tố tụng dân sự Việt Nam – Nghiên cứu so sánh, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 180.
[4] Nguyễn Thị Hương (2019), tlđd, tr. 95.
[5] Bùi Thị Huyền (Chủ biên, 2016), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nxb. Lao động, Hà Nội, tr. 242.