0240.73088281
Logo

Lãi suất chậm thanh toán trong Hợp đồng xây dựng đối với công trình không sử dụng vốn nhà nước được áp dụng như thế nào?

Hiện nay, Hợp đồng xây dựng giữa hai bên chủ thể luôn có một điều khoản về lãi suất chậm thanh toán để đảm bảo quyền lợi giữa chủ đầu tư và nhà thầu xây dựng, tránh việc chậm thanh toán là nguyên nhân ảnh hưởng đến lợi ích của bên còn lại. Trong quá trình đưa ra thỏa thuận, chủ đầu tư và nhà thầu xây dựng thường cân nhắc kỹ lưỡng về yếu tố lãi suất sao cho không vượt quá mức trần lãi suất theo quy định của BLDS năm 2015 là 20%/năm (khoản 1 Điều 468 của BLDS 2015). Trong trường hợp hai bên không có thỏa thuận thì lãi suất được xác định là 10%/năm (khoản 2 Điều 468 của BLDS 2015). Thông thường, mức lãi suất về chậm thanh toán luôn được hai bên thỏa thuận trước, đa phần là gần chạm ngưỡng mức giới hạn về trần lãi suất. Tuy nhiên, nếu chỉ có BLDS năm 2015 quy định về lãi suất chậm thanh toán thì câu hỏi ở trên không nhất thiết phải đặt ra. Bởi ngoài BLDS năm 2015 điều chỉnh về lãi suất chậm thanh toán, Luật Thương mại năm 2015 cũng có quy định riêng cho hai bên về vấn đề này.

Tại Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 có quy định về lãi suất chậm thanh toán như sau: “Bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”

Mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường được hướng dẫn tại Điều 11 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP quy định như sau: “Trường hợp hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh tại Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005 thì khi xác định lãi suất chậm trả đối với số tiền chậm trả, Tòa án căn cứ vào mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của ít nhất 03 (ba) ngân hàng thương mại (Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam,...) có trụ sở, chi nhánh hoặc phòng giao dịch tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Tòa án đang giải quyết, xét xử có trụ sở tại thời điểm thanh toán (thời điểm xét xử sơ thẩm) để quyết định mức lãi suất chậm trả, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”

Có thể thấy, mức lãi suất chậm thanh toán giữa BLDS năm 2015 và Luật Thương mại năm 2005 đã có sự khác biệt đáng kể về vấn đề này khi BLDS năm 2015 quy định về lãi suất chậm thanh toán là theo sự thỏa thuận còn Luật Thương mại năm 2005 là theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của ít nhất ba ngân hàng thương mại. Vậy thì, chủ đầu tư và nhà thầu xây dựng nên áp dụng theo mức lãi suất nào?

Thực tế, mỗi loại hợp đồng lại chịu sự điều chỉnh riêng của từng luật khác nhau, Hợp đồng dân sự chịu sự điều chỉnh của BLDS năm 2015, Hợp đồng thương mại chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại năm 2005 và Hợp đồng xây dựng chịu sự điều chỉnh của Luật Xây dựng năm 2014.

Về bản chất, Hợp đồng xây dựng là một loại hợp đồng đặc thù thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành luật đặc thù chuyên về xây dựng. Do đó, Luật Xây dựng năm 2014 sẽ điều chỉnh các vấn đề có liên quan đến Hợp đồng xây dựng. Thật vậy, tại khoản 1 Điều 138 Luật Xây dựng năm 2014 có quy định rõ về hợp đồng này như sau: “Hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự được thoả thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc trong hoạt động đầu tư xây dựng”. Mặc dù định nghĩa trên không đề cập Hợp đồng xây dựng là Hợp đồng thương mại hoặc Hợp đồng dân sự. Tuy nhiên, về lý thuyết, Hợp đồng thương mại có đặc trưng về chủ thể xác lập (được xác lập giữa hai bên là thương nhân hoặc một trong hai bên là thương nhân) và mục đích của hợp đồng (nhằm mục đích sinh lợi). Do đó, nếu Hợp đồng xây dựng đáp ứng đầy đủ các điều kiện về xác lập và mục đích thực hiện hợp đồng thì có thể coi Hợp đồng xây dựng cũng là Hợp đồng thương mại và chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại năm 2005.

Do phạm vi của Hợp đồng xây dựng được nhắc đến trong câu hỏi không phải là công trình sử dụng vốn nhà nước. Cho nên, quy định về lãi suất chậm thanh toán trong Hợp đồng xây dựng giữa chủ đầu tư và nhà thầu xây dựng có thể đồng thời là đối tượng điều chỉnh của cả BLDS 2015 và Luật Thương mại 2005, còn Luật Xây dựng năm 2014 không được đề cập đến ở đây bởi khoản 2 Điều 146 Luật Xây dựng 2014 chỉ quy định: “Đối với công trình xây dựng sử dụng vốn nhà nước, mức phạt hợp đồng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm. Ngoài mức phạt theo thỏa thuận, bên vi phạm hợp đồng còn phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, bên thứ ba (nếu có) theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan khác.” Để giải đáp thắc mắc đối với vấn đề trên, tại đoạn 3 Công văn số 48, Bộ Xây dựng cho rằng, các bên được quyền áp dụng mức phạt vi phạm đã được thỏa thuận theo hợp đồng xây dựng đối với công trình không sử dụng vốn nhà nước. Theo cách giải thích này, đối với công trình không sử dụng vốn nhà nước, hai bên trong Hợp đồng xây dựng hoàn toàn có thể tự thỏa thuận với nhau về mức lãi suất chậm thanh toán theo quy định của BLDS năm 2015.

Tuy nhiên, cách giải thích trên theo Công văn số 48 của Bộ Xây dựng vẫn chưa thực sự đầy đủ và hợp lý. Bởi việc ưu tiên áp dụng BLDS năm 2015 trước Luật Thương mại năm 2005 để xác định về lãi suất chậm thanh toán có thể phù hợp theo “nguyên tắc văn bản ban hành sau”, căn cứ tại khoản 3 Điều 156 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Cụ thể, Điều luật này quy định như sau: “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau.”

Nhưng theo “nguyên tắc luật chung, luật riêng” được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật thì Luật Thương mại năm 2005 lại được ưu tiên áp dụng trước BLDS năm 2015. Cụ thể, theo khoản 2 và 3 của Điều 4 BLDS 2015 quy định nguyên tắc pháp lý này như sau:

“2. Luật khác có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này.

3. Trường hợp luật khác có liên quan không quy định hoặc có quy định nhưng vi phạm khoản 2 Điều này thì quy định của Bộ luật này được áp dụng”.

Bên cạnh BLDS năm 2015, Luật Thương mại năm 2005 cũng có quy định “nguyên tắc luật chung, luật riêng” tại Điều 4 như sau:

“1. Hoạt động thương mại phải tuân theo Luật Thương mại và pháp luật có liên quan.

2. Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy định của luật đó.

3. Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự”.

Dựa theo “nguyên tắc luật chung, luật riêng” được quy định tại hai văn bản quy phạm pháp luật ở trên, ta có thể coi BLDS năm 2015 là luật chung và Luật Thương mại năm 2005 là luật riêng. Từ đó, ba kết luận có thể được đúc kết ra như sau:

“1. Nếu quy định của Luật Thương mại năm 2005 trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định tại BLDS năm 2015, quy định của Luật Thương mại năm 2005 sẽ không được áp dụng và quy định của BLDS năm 2015 sẽ được áp dụng;

2. Nếu quy định của Luật Thương mại năm 2005 không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định tại BLDS năm 2015, quy định của Luật Thương mại năm 2005 sẽ được áp dụng và quy định của BLDS năm 2015 sẽ không được áp dụng; và

3. Nếu Luật Thương mại năm 2005 không quy định về một vấn đề mà vấn đề đó lại được quy định trong BLDS năm 2015 thì BLDS năm 2015 sẽ được áp dụng;”[1]

Nếu như thỏa thuận về lãi suất chậm thanh toán giữa chủ đầu tư và nhà thầu xây dựng không trái với quy định tại BLDS năm 2015 thì dựa theo kết luận ở trên, lãi suất chậm thanh toán có thể được xác định thông qua lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của ít nhất 3 ngân hàng thương mại căn cứ tại Luật Thương mại năm 2005.

Theo hai nguyên tắc là “nguyên tắc văn bản ban hành sau” và “nguyên tắc luật trước, luật sau”, mức lại suất chậm thanh toán giữa chủ đầu tư và nhà thầu hoàn toàn có thể tuân theo quy định của BLDS năm 2015 và/hoặc Luât Thương mại năm 2005. Vì vậy, việc xác định lãi suất chậm thanh toán giữa hai bên trong Hơp đồng xây dựng vẫn gặp phải nhiều khó khăn trong cách hiểu và giải thích. Do đó, nếu không có một quy định chung thống nhất đối với vấn đề thỏa thuận lãi suất chậm thanh toán thì trong thời gian tới, những tranh cãi đối với vấn đề này sẽ tiếp tục bị bỏ ngỏ do chưa có lời giải đáp thấu tình, đạt lý nhất để đảm bảo quyền lợi đôi bên trong quan hệ Hợp đồng xây dựng.

Vương Toàn Thuận - Công ty Luật TNHH H&M


[1] Trương Nhật Quang, Phạm Hoài Tuấn, “Phạt vi phạm trong hợp đồng xây dựng”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 24 (400), bài đăng tháng 12/2019, https://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=21045.

Các tin khác