1. Xác lập vật quyền trên cơ sở ý chí của các chủ thể thông qua hợp đồng hoặc giao dịch một bên
Sự thoả thuận, tự định đoạt của các chủ thể thông qua giao dịch dân sự chính là cơ sở để thiết lập nên các quan hệ dân sự. Mặt khác, giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương hoặc hợp đồng của các chủ thể luật dân sự bao gồm: cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự.[1] Do đó, khi tham gia vào quan hệ dân sự, trong đó có quan hệ vật quyền thì sự tự định đoạt của các bên thông qua hợp đồng hoặc giao dịch một bên (hành vi pháp lý đơn phương) chính là một căn cứ phổ biến.[2]
Trước hết, vật quyền được xác lập thông qua hợp đồng. Hợp đồng là sự thoả thuận, thống nhất ý chí của các chủ thể, từ đó xác lập vật quyền cho một hoặc các bên chủ thể đó. Hay nói cách khác, giữa các chủ thể có thoả thuận, thống nhất ý chí để một bên có vật quyền nhất định trên tài sản thuộc sở hữu của bên kia hoặc bên kia có quyền được xác lập vật quyền cho chủ thể khác. Bản chất trường hợp này là hợp đồng giữa hai bên chủ thể để xác lập vật quyền cho một bên chủ thể trong hợp đồng.[3] Tuy nhiên, không phải mọi hợp đồng mà chỉ những hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật mới xác lập vật quyền cho chủ thể được cấp hoặc chuyển giao. Có thể kể đến một số hợp đồng cơ bản là căn cứ làm xác lập vật quyền như hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho, chuyển giao quyền bề mặt, quyền hưởng dụng hay quyền địa dịch… Thời điểm xác lập quyền cho chủ thể sẽ khác nhau, có thể là thời điểm chuyển giao tài sản hoặc thời điểm đăng ký tuỳ thuộc vào đối tượng của hợp đồng là loại tài sản nào.
Giao dịch một bên là căn cứ xác lập vật quyền dựa trên sự thể hiện ý chí của một bên chủ thể. Khi đó, ý chí của một chủ thể sẽ làm phát sinh hậu quả pháp lý là xác lập vật quyền đối với tài sản cho một chủ thể khác. Chẳng hạn như trường hợp chủ thể lập di chúc để lại tài sản cho những người khác thì sau khi sau khi chủ thể lập di chúc chết, những người được thừa kế trong di chúc sẽ có quyền đối với tài sản đó, hay chính là xác lập vật quyền đối với di sản. Hoặc có thể kể đến trường hợp một chủ thể tuyên bố hứa thưởng cho bất kỳ người nào thực hiện được điều kiện do bên hứa thưởng đưa ra, thì khi có chủ thể thực hiện được điều kiện đó sẽ trở thành căn cứ làm xác lập vật quyền đối với tàn sản được hứa hưởng.
2. Xác lập vật quyền theo quy định của pháp luật
Bên cạnh sự thể hiện ý chí của một hoặc các bên chủ thể thì vật quyền còn được xác lập theo quy định pháp luật xuất phát từ chính tính tuyệt đối, pháp định của vật quyền. Theo đó, pháp luật dân sự có quy định về những sự kiện pháp lý làm phát sinh vật quyền nhằm đảm bảo việc quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích hợp pháp của các chủ thể yếu thế trong xã hội, vì lợi ích công cộng hoặc vì chính lợi ích của các bên trong quan hệ dân sự…
Cụ thể các trường hợp vật quyền được xác lập theo quy định pháp luật như: (i) Xác lập quyền sở hữu do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến; xác lập quyền sở hữu do tài sản vô chủ, nhặt được tài sản đánh rơi, bỏ quên, tìm được tài sản chôn giấu, chìm đắm…; (ii) Xác lập quyền hưởng dụng do chiếm hữu gia súc, gia cầm thất lạc; xác lập quyền hưởng dụng đối với hoa lợi, lợi tức do chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình…; (iii) Xác lập quyền địa dịch do vị trí như quyền sử dụng lối đi qua bất động sản liền kề; quyền về mắc đường dây tải điện, thông tin liên lạc qua bất động sản khác; quyền cấp thoát nước qua bất động sản liền kề, quyền về tưới tiêu nước trong canh tác…
Chẳng hạn như xác lập quyền địa dịch, cụ thể là quyền sử dụng lối đi qua bất động sản liền kề, một trong những căn cứ làm phát sinh vật quyền trong trường hợp này là quy định pháp luật. Bởi quyền tự do đi lại thường được các quốc gia, trong đó có cả Việt Nam[4] ghi nhận trong văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất là Hiến pháp, được coi là quyền cơ bản không thể thiếu đối với mỗi con người. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, do vị trí địa lý của bất động sản khiến cho chủ sở hữu tài sản không thể thực hiện được quyền này một cách bình thường, lúc này pháp luật trở thành công cụ cần thiết, hữu hiệu nhất để giải quyết vấn đề.
3. Xác lập vật quyền theo những căn cứ riêng biệt khác
Ngoài việc xác lập thông qua giao dịch dân sự hoặc theo quy định pháp luật, vật quyền trong những trường hợp đặc biệt còn có thể được xác lập căn cứ vào bản án, quyết định của toà án, các quyết định tố tụng, hành chính khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc xác lập theo thời hiệu… Ví dụ như quyết định tịch thu tài sản, bản án có hiệu lực phân chia tài sản chung hoặc quyết định, bản án giao quyền hưởng dụng, địa dịch hoặc bề mặt cho một chủ thể nhất định.[5]
Chẳng hạn như trong pháp luật La Mã, “Servitus” - loại quyền thuê đất của người khác để đảm bảo việc sản xuất và sinh hoạt trên đất của mình khi ở đó không đủ mọi điều kiện tối thiểu nhất[6] có thể phát sinh theo quyết định của toà án.[7] Hay pháp luật dân sự của các nước nói chung, của Việt Nam nói riêng đều quy định về thời hiệu xác lập quyền sở hữu để bảo vệ quyền và lợi ích của người chiếm hữu ngay tình. Theo đó, đối với những hành vi chiếm hữu không có căn cứ pháp luật những ngay tình thì cần phải có những điều kiện như chiếm hữu liên tục, công khai sau một thời hạn cần thiết để trong thời hạn này chủ sở hữu thực sự có điều kiện truy tìm tài sản của mình, hết thời hạn đó thì người chiếm hữu ngay tình được xác lập quyền sở hữu.[8]
Nguyễn Thị Lan Hương - Công ty Luật TNHH H&M
[1] Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb. Công an nhân dân, tr. 60.
[2] Nguyễn Minh Oanh (2018), sđd, tr. 38, 39.
[3] Phùng Trung Tập, Kiều Thị Thuỳ Linh (2021), sđd, tr. 86.
[4] Điều 23 Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước…”
[5] Nguyễn Minh Oanh (2018), sđd, tr. 41.
[6] Nguyễn Ngọc Đào (1994), Luật La Mã (Tài liệu dành cho sinh viên khoa luật các trường đại học), Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, tr. 65.
[7] Nguyễn Ngọc Đào (1994), sđd tr. 68.
[8] Lê Thị Ngọc Vân (2014), Pháp luật Việt Nam về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu, Luận văn thạc sỹ Luật học, Hà Nội, tr. 25.